THÁNG BA NĂM ĐÓI

Thứ hai - 10/12/2018 12:03
19961118 1585564444850015 4081437705697100203 n
19961118 1585564444850015 4081437705697100203 n
 
 
 

THÁNG BA NĂM ĐÓI

             Kì VI
*GS Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC
       (tiếp theo)
 
               
16
 
 
Mẹ tôi bảo đưa cơm nếp và bánh trôi cho các con anh chị Thường. Tôi không muốn đi một mình mà rủ chị Ba cùng đi cho vui. Hơn nữa, kể từ hồi đói kém, người ta rất ngại ra đường một mình. Nhìn xung quanh, đâu cũng những con mắt hau háu dò xét xem mình có tiền, có gạo không, có vay vỏ được không hay còn những ý nghĩ gì nữa, ai mà biết? Khi xưa mùa màng tốt đẹp, dân làng ai cũng có thóc có gạo, có tiền chẳng nhiều thì ít, tệ lắm cũng đủ ăn, người ta còn đóng góp cho làng, cho xã, còn mua nhiêu, mua giáp, khao vọng làng xã ăn uống linh đinh. Đâu có thiếu gì những người bỏ tiền ra mua danh mua vọng, đâu có thiếu những tấm lòng vàng khi cần giúp đỡ kẻ trong họ, ngoài làng khi cơ nhỡ, hoạn nạn, lụt lội, cháy nhà v.v...!
Nhưng nay tình trạng ấy không còn nữa. Tất cả chỉ là đói kém, túng thiếu; hạt gạo, củ khoai, cái bắp không còn hoặc còn chút đỉnh dưới đáy vại, đáy chum, nhẩm tính cũng biết cái ngày chẳng còn gì. Và sẽ làm sao để sống? Sẽ lấy gì bỏ vào miệng cho mình, cho chồng, cho vợ, cho con? Chao ôi, sao sự thật lại quá phũ phàng thế này? Nhiều nhà còn cả tấn, cả mấy tấn vỏ đay đấy nhưng nào thấy Pháp, thấy Nhật đến cân? Cho dù chúng cân và trả rẻ, nắm được ít tiền nhưng ra chợ chẳng thấy một hàng gạo, hàng thóc gì bán!
 Tình trạng đong gạo như ăn cướp đã xẩy ra cả nửa năm nay. Mỗi khi có chị hàng xáo nào ra chợ phiên, đặt thúng gạo xuống là y như có cả chục người vồ lấy giữ cho mình. Họ tranh nhau chí choé, chửi bới nhau vì chậm tay. Rồi chị hàng xáo “hát” bao nhiêu họ cũng trả, đắt mấy cũng mua, không kì kèo một tiếng. Tiền xỉa ra trả đủ không thiếu một chinh. Có khi lại cho thêm chút đỉnh để khuyến khích và bảo đưa nữa, đưa nữa ra cho họ mua, giá cao hơn cũng được.
Cùng thời gian đó, người ta thấy xuất hiện những hàng bán bánh đúc, bán cháo trắng (cháo hoa) thật nhiều. Gạo xay ra, giã ra cho thành bột, cho nước vào nấu, bỏ thêm chút muối, chút vôi ăn trầu rồi đổ ra bát ăn cơm. Khi nguội nó đông lại có thể cầm trên tay cắn ăn, hoặc xắt thành lát, gọi là bánh đúc. Bánh đúc mắm tôm đi đôi với nhau. Lúc còn no ấm, người ta chế ra bánh đúc dừa, bánh đúc lạc, nghĩa là cho thêm cùi dừa bào nhỏ hoặc nhân lạc vào để bánh đúc có thêm vị bùi, vị béo. Dần dần do sáng kiến, những người bán còn chế ra một loại nước canh tựa như canh riêu cua, có thêm cà chua, có cả rau rút cho thơm, đem xắt nhỏ bánh đúc ra theo chiều dài, lúc khách ăn, bỏ nó vào bát rồi dội nước riêu thật nóng lên. Đang đói mà được thưởng thức một tô canh bánh đúc như thế cũng no và khoái khẩu. Tôi nhớ đã mấy lần mẹ dẫn tôi vào chợ Đồng Xuân Hà Nội, lúc mẹ cho ăn bún vịt xáo măng nhưng có lúc lại canh riêu cua bánh đúc, ăn với rau diếp tươi xanh và ngò hay kinh giới, tía tô thái nhỏ. Thứ nào cũng ngon, cũng hợp khẩu vị! Có người - theo đúng quốc hồn quốc túy - lại còn xin bà hàng cho một muỗng nhỏ mắm tôm nữa mới vừa lòng!
Bánh đúc lúc đói kém chỉ là bánh đúc thường, có mà ăn cho no là mừng rồi,  làm gì dám mơ bánh đúc dừa, bánh đúc lạc, canh riêu bánh đúc, những món ăn cao cấp dành cho quí tộc! Ấy dân ta nghèo nên cả đời chỉ mong ước được no ấm có bấy nhiêu, đâu dám mơ hơn. Vậy mà vẫn không xong chẳng qua cái học của dân ta còn quá cổ lỗ, tri thức về kĩ thuật còn quá ấu trĩ lại chẳng có người đi tiên phong cải cách nên cả ngàn năm cũng vẫn nằm im ở trong cái vỏ sò tăm tối ấy mà thôi. Sau này, có biết bao người tự xưng lãnh tụ, lãnh đạo đứng ra dẫn dắt dân chúng nhưng những người ấy, hoặc là không thương dân thương nước, hoặc là đầu óc cũng vẫn còn nằm trong cái vỏ sò u tối, không chịu học hỏi nơi người về kĩ thuật, phát minh và khoa học thực nghiệm, hoặc chỉ chú ý đến chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia trên trời dưới biển mà bỏ qua những đường lối thực tế cải cách dân sinh, làm cho dân được khá giả, no ấm, sung sướng nhờ những tri thức kĩ thuật của thời đại vô cùng tiến bộ kể từ thế kỉ 18 khi con người - bắt đầu từ Âu châu - đi vào lãnh vực khoa học để cơ khí hóa nông nghiệp, công nghiệp cũng như mọi lãnh vực khác của đời sống, và chính nhờ thế, con người đã có ngày hôm nay.
Đa phần những người lãnh đạo ở nước ta, cổ cũng như kim, những điều ích quốc lợi dân có thể làm thay đổi đời sống nhân dân thì không dạy hoặc tìm thầy dạy mà chỉ dạy những phương cách làm sao để củng cố cái ngai vàng của họ, của phe đảng họ, gia đình họ mà thôi. Cái thói ham quyền lực, chết cũng chưa bỏ được, chết cũng vần còn muốn ăn trên ngồi trốc. Thế thì nói yêu nước thương nòi chẳng hóa ra lộng ngôn lắm sao? Vì vậy mà cả ngàn năm rồi, lại ngàn năm nữa tiếp nối, với cung cách phí phạm thời giờ như thế, không biết dân ta có tiến lên được bằng một phần mười của người ta không, khi năm 2005, người ta đã lên Sao Hỏa (lên Cung Trăng từ 1969) còn chúng ta, chúng ta chưa làm được cái đinh ốc như báo Tuổi Trẻ trong nước viết trong năm 2006!
Chúng ta nghĩ thế nào về cái hội chứng di căn ham quyền lực? Chúng ta nghĩ sao về di sản ông cha ta đổ bao xương máu để lại cho chúng ta và chính chúng ta đã làm gì để xứng với lòng mong mỏi của cha ông? Tôi trộm nghĩ tất cả chúng ta đều có lỗi với tiền nhân, nặng nhẹ tùy theo chúng ta là thủ phạm, tòng phạm hay chỉ vì a dua, hèn nhát, khiếp nhược hoặc thờ ơ không dám nói lên sự thực, không dám đối diện với sự thực! Thái độ che giấu, bưng bít ấy là thái độ giật lùi, lạc hậu khác nào kẻ có bệnh giấu diếm không dám nói với y sĩ mình đang mắc một chứng ung thư. Nạn đói tháng Ba đang nói đây cũng chính là một thứ  ung thư mà nếu không che giấu, bất trí như lãnh đạo hồi đó thì 2 triệu dân đâu có chết!
Trở lại  với những hàng bánh đúc mắm tôm la liệt một thời ở những ngôi chợ quê mà xưa kia các bà mẹ có tiền thì mua những thứ quà khác ngon hơn như bánh đa kê, bánh dày giò, bánh chưng, bánh giò, các thứ bún hoặc phở v.v... cho con ăn; nay đói kém quá phải rút lại, chỉ mua bánh đúc mắm tôm đã rẻ lại ăn no đỡ cơm được một bữa. Bởi vậy, xưa nay ai cũng biết, nghèo thường không đi một mình mà nó có bạn đồng hành là đói.
Đến một lúc, rồi những hàng bánh đúc ở quê tôi cũng như ở mọi nơi, kể cả bánh đúc nấu bằng gạo đỏ, gạo hẩm và cả những hàng cháo tấm, cơm tấm, cháo cám dần dần biến mất bởi còn gạo đâu mà xay bột làm bánh, nấu cháo? Vả lại tình trạng cướp cơm nắm, cướp bánh đúc đã xẩy ra ở nhiều ngôi chợ khiến những người bán e dè không dám bán nữa. Con đói không dám cho ăn hay chỉ cho ăn cầm chừng, đưa ra chợ bán kiếm tí lời, lại bị cướp sạch, thôi chẳng thà nghỉ buôn nghỉ bán!
Cũng như gạo thóc, cái tình trạng mua cướp, mua giật như đã nói chỉ một thời khoảng ngắn rồi cũng hết bởi chẳng chị hàng xáo nào có thóc xay mãi mà bán gạo, chẳng nhà giầu nào có thóc đổ ra bán hoài. Họ cũng sợ Thần Đói đến viếng. Còn những chị hàng xáo xưa kia, không chừng giờ này các chị và gia đình các chị đang chết đói, đang ngắc ngoải ở một nơi nào đó, nào ai biết!
 Cho nên lúc này đi ra ngoài đường một mình là rất sợ nhất là trên tay có cầm một vài thứ bị nghi ngờ là đồ ăn được ngụy trang. “Bần hàn sinh đạo tặc” quả không ngoa! 
Chị Ba lấy cái thúng nhỏ đặt thố cơm nếp và thố bánh trôi vào, lấy vỉ đậy, xong lấy mấy cái quần áo cũ vắt lên trên ngụy trang rồi đội lên đầu; có ai nhìn thì tưởng đó là quần áo, chẳng ai màng, nhưng nếu họ biết là thức ăn thì sự thể lại khác. Ðã có những vụ người làng hay người làng bên cướp giật thức ăn giữa ban ngày. Người ta không còn biết xấu hổ là gì!Tất cả mọi người, mọi con thú còn sống đều chỉ nghĩ đến cái gì ăn được, bỏ bụng cho cái dạ dày bớt cào cấu. Không một thứ luân lí, giáo lí tôn giáo nào còn hiệu nghiệm với những cơn đói kinh hoàng, đói xanh mắt, đói bò lê bò càng, đói khủng khiếp lúc đó nữa. Cướp giật ăn rồi chết có đi lên thiên đàng hay xuống chín tầng địa ngục chăng nữa, người ta cũng không cần!
Trong gia đình, có một chút thức ăn, người ta phải chia nhau mà sống chứ ngoài xã hội, giữa những người láng giềng, xóm ngõ với nhau  thì ngày xưa khác, nay khác. Vì một nắm cơm, một củ khoai có thể trở nên kẻ giết người. Và đã có nhiều người bị giết vì một củ khoai, một nắm cơm!
Mà dù có giết người thực đó, ai lí tới? Lí tới bỏ tù được chăng? Một triệu người mong được ở tù để có cơm ăn. Hệ thống hành chánh xã thôn đã tê liệt, đã giải tán, đã trở nên bất động vì chính những chức việc cũng đang ở trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã: gạo thóc khoai ngô cám bã hết cả rồi! Những người nhanh chân phải bỏ nhà cửa đó dắt díu vợ con ra thành phố ăn xin cầu may qua được cơn đói. Nhưng với đa số, kể là đã quá chậm: không còn gì ăn đường, không đủ sức để lên tới thành phố nữa!
Người nông dân Bắc Việt và cả ở Trung Việt, suốt đời ở trong lũy tre xanh, đến 95% không hề bước chân lên đến thành phố mà họ cho là quá xa xôi, diệu vợi, lạ lẫm và tốn phí. Ngủ ở đâu, ăn ở đâu, đường xá trên tỉnh như mạng nhện, lạc biết đường nào mà trở lại nhà? Lớ ngớ bị Tây bắt thì sao? Lỡ bị ở tù ai biết mà đi tìm? Lỡ bị móc túi, bị lừa, bị xe cộ cán...một trăm cái “lỡ” nằm trong đầu. Thế nên khi cần phải “di tản chống đói” họ đã quá lúng túng không biết phải làm sao cho đến khi cạn kiệt phương tiện không còn đi được nữa. Ði mình họ, họ đã ngán; nay lại phải dắt díu vợ con cả đàn cả lũ, hàng chục người đi đến một nơi vô định, đường lên thành phố cũng chưa biết, thật là thiên nan vạn nan đối với họ.
Lại còn vấn đề trọng đại khác. Bỏ nhà đó mà đi, yên tâm được sao? Nhà là cơ nghiệp cả một đời người xây dựng bằng mồ hôi nước mắt, chân lấm tay bùn. Tất cả nằm trong ngôi nhà, dù lớn dù nhỏ, quá khứ, hiện tại và tương lai. Và bàn thờ gia tiên hương khói cho tròn đạo con, cháu, chắt. Nhà cũng ví như cái linh hồn của mỗi gia đình. Nay bỏ nó mà đi, rồi chuyện gì sẽ xẩy ra cho nó? Người ta vào lấy trộm các thứ trong nhà: bàn ghế, giường tủ, nồi, xanh đồng... rồi lúc về lấy gì mà dùng? Cửa nẻo bằng gỗ mỏng chỉ đạp nhẹ cũng bung ra.
Một điều khác kém quan trọng hơn cái nhà nhưng không phải là dễ mà bỏ đi được. Đó là mồ mả tổ tiên, cha ông. Đi hun hút như thế rồi bao giờ trở lại xóm làng mà tu sửa mồ mả, cúng kiếng, nhang khói cho phải đạo con, đạo cháu? Từ ngàn xưa ông cha mình đã chẳng quan niệm “Sống vì mồ vì mả chứ không sống vì cả bát cơm” đấy sao? Dĩ nhiên lúc cần phải tha phương cầu thực thì phải đi nhưng nghĩ đến mồ mả ông bà bỏ thí đó cho mưa nắng giãi dầu, lòng những người con, người cháu tan nát! Người Việt vốn xưa nay trọng đạo Hiếu với ông bà, cha mẹ và có những gia đình chẳng theo tôn giáo nào nhưng chỉ thờ cúng ông bà, cha mẹ, tổ tiên  như những vị thần một lòng kính ngưỡng.
Trở lại vụ hai chị em tôi đến nhà anh chị Thường.
Chúng tôi cũng không dám đi tối vì đi tối rất nguy hiểm. Trời ngả muộn muộn, chúng tôi vào nhà anh chị Thường. Con chó Mực không còn, như mọi khi nó đã ra quấn quít vì biết người quen. Tôi không hiểu về trường hợp của nó. Đói quá nó đã đi hoang như nhiều con chó khác hay anh Thường đã ra tay làm thịt mang lại cho gia đình anh mấy bữa no bụng? Tôi nhớ con Mực mà không dám hỏi, cũng như con mèo Mướp.
Anh chị Thường và đàn con đang ngồi ủ rũ trong nhà thấy chị em tôi tới, mừng rú lên. Lại càng mừng khi chị Ba giở cái vỉ che bên trên cùng mấy cái quần áo cũ ngụy trang  ra. Mấy đứa nhỏ trố mắt nhìn chăm chăm vào hai cái thố, tôi nghĩ là chúng không chớp mắt. Cả hai anh chị và đàn con đều gầy nhom, nhất là con bé Yêu. Tất cả trên mặt nó chỉ còn đôi mắt. Thật tội nghiệp con bé!
Chị Ba để tôi nói:
“Mẹ em kiếm được mấy bơ nếp và ít bột còn sót lại để trong buồng. Mẹ em bảo đem đến một ít cơm nếp và bánh cho các cháu.”
Cả bằng ấy cái miệng cùng à lên một tiếng vui mừng. Tôi nghĩ ngày nay những người giầu có ở Mỹ mua được viên hột xoàn 1000 carat, to hơn trái nho, đôi mắt vui mừng của họ cũng không thể so sánh với những đôi mắt của vợ chồng, con cái anh chị Thường đang nhìn hai thố cơm, bánh.
“Dì với cậu ngồi chơi một tí đã.”, chị Thường nói.
Chị Ba hỏi:
“Hai bác đâu hả anh chị?”
“Nhà hết cả mọi thứ ăn, hai bác đi Tiên Lãng có người em con cô con cậu với bác gái ở đó. Ði cả tháng chưa thấy tin tức gì. Không biết ra sao?” Chị Thường trả lời.
Anh Thường hỏi tôi:
“Cậu còn đi học không, cậu Vũ?”
“Em vẫn đến trường, anh Thường. Nhưng chắc sắp sửa không còn đi học nữa vì trường đóng cửa. Các ông giáo nghe nói không nhận được tiền lương cả mấy tháng nay rồi, mà có nhận được thì gạo thóc ở đâu mà mua hả anh chị? Học sinh đã nhiều người bỏ học. Lớp Nhì chính (cours Moyen 2ème année) em đang học trước đây hơn 30 đứa, nay rụng dần chỉ còn khoảng gần hai chục. Không cơm gạo, lòng dạ đâu mà học, hả anh chị?”
Anh Thường thở dài:
“Ðúng đấy cậu. Tôi e rằng rồi chết đói hết cả cái miền Bắc này. Trong Nam người ta dư gạo ăn nhưng không hiểu sao Chính Phủ không tiếp tế ra Bắc. Còn như đi kiếm ăn thì dì và cậu coi, đi lên tỉnh còn không biết có đi tới nơi không hay chết đói giữa đường, nói gì vào đến Nam bộ.”
Mấy đứa trẻ đến quấn lấy tôi vì thường ngày chúng vẫn yêu quí tôi. Quả như mẹ tôi nói, đứa nào cũng lỗ đáo hai con mắt mặc dầu còn đi lại nhanh nhẹn. Tôi nhìn chúng mà bồi hồi thương cảm nhưng chẳng biết làm sao!
Câu chuyện chấm dứt ở đó vì chị Ba nói phải về kẻo đi ban tối rất nguy hiểm.
“Dì và cậu thưa với bà, anh chị và các cháu cám ơn bà nhiều lắm.”
Ðó là lần cuối cùng tôi gặp gia đình anh chị Thường vì chỉ hai tuần sau, anh tôi và tôi theo một người dẫn đường do thầy tôi gửi về, để ra Hải phòng với thầy tôi.
 
 
                           17
 
 
Có hai điều thầy tôi tính toán trong vụ này. Một,  để bớt miệng ăn ở quê cho mẹ tôi, vốn rất khó khăn; hai để anh em tôi có thể tiếp tục việc học ở Hải phòng, nơi các giáo viên người Pháp không chịu ảnh hưởng mảy may về trận đói, vẫn tiếp tục dạy như thường. Còn học sinh thành phố cũng có ảnh hưởng nhưng chỉ sơ sài với những gia đình thân thuộc nặng gánh ở thôn quê.
Trường tiểu học Pháp đường Bonnal - gần nhà tôi ở phố Chavignon (ngõ Cố Đạo) - mà tôi đã có học trước kia, thâu nhận lại tôi dễ dàng và tôi tiếp tục học ở đó cho đến khi thi đậu bằng Tiểu học Pháp-Việt.
Tôi nhớ năm đó thi trễ và làm bài thi bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt đều được vì là năm giao thời và học sinh bỏ học nhiều vì đói, vì thời cuộc.
 Sau đó là cuộc Tổng khởi nghĩa 19-8-1945 của toàn dân Việt nổi lên đánh đuổi Pháp thành công, giành lại Độc Lập, Tự do cho nước nhà. Rồi chương trình Pháp bị bãi bỏ hẳn để thay thế bằng chương trình hoàn toàn Việt. Nhưng lúc đầu chưa đủ sách giáo khoa Việt nên nhiều trường lúng túng, Giáo sư phụ trách cứ dịch sách Pháp ra tới đâu dạy học sinh tới đó nhưng vẫn phải rất dè dặt vì đó là do sáng kiến cá nhân chứ không phải đường lối của Chính phủ vì phong trào bài Pháp, bài tiếng Pháp dữ dội lắm mà từ trước tới nay, sau 80 năm đô hộ, văn hóa, văn chương Pháp đã ăn sâu vào giới học sinh, sinh viên cũng như giới thầy giáo Việt Nam; nay một lúc bỏ hẳn đi biết lấy gì thay thế, biết lấy gì mà dạy, mà học?
Ngày nay, để viết những trang hồi ức này, tôi phải tĩnh tâm ngồi nhớ lại từng chi tiết của một thời gió bụi điêu linh, chiến tranh tiêu thổ, đồng không nhà trống, nơi đâu cũng là chết chóc, khói lửa, hoang tàn, đâu cũng là tang thương, biến đổi, đói khổ, rạc rài... Tất cả những  đói rét, bệnh tật đó giao thoa với nhau thành những hình ảnh lộn xộn có thể ví như một mớ bòng bong mà tôi tin rằng còn nhiếu điều tôi quên do đã quá lâu, trí nhớ phai mờ vì năm tháng và do sự xúc động quá độ khi nhắc đến chúng, những biến cố thê thảm, xót xa trong tâm tư mà tôi đã chứng kiến. Tôi muốn nói đến những đau thương dồn dập đổ lên đầu đồng bào tôi khắp Bắc Trung Nam suốt 100 năm qua!
Tôi nhớ đến anh chị Thường và các cháu. Nhớ đến chú thím Vang, hai bác Tiêm, chú thím Dũng và hàng chục người trong xóm cây Bàng thân thiết của gia đình. Tôi nhớ những thằng bạn cùng lứa, đã đi học, đi chơi với nhau, đi bẫy chim khuyên, đặt tổ sáo, vào các chùa và nhà thờ bắt hàng đàn sẻ vặt lông, mổ bụng, ướp tiêu hành, thui trên than hồng cho chín rồi chấm muối tiêu ăn với nhau vô cùng thú vị. Bọn tôi cũng làm diều, đua diều, cho diều đeo bộ sáo để nghe sáo thổi vi vu cả đêm; đi tắm sông, bơi thi; đi coi hội Xuân làng bên, trêu ghẹo các cô thôn nữ mới lớn, đấu vật, đá banh, đánh volley-ball, theo thuyền mùa gặt ra đồng mót lúa, kéo đá... Biết bao là cuộc vui, biết bao là kỉ niệm! Nhưng tháng Ba năm đói đã hóa thân hầu hết những thằng bạn tôi, đã xóa sổ chúng vĩnh viễn.
Ra Hải phòng, tôi vẫn không quên được anh chị Thường và các cháu nhất là mỗi bữa cơm, ngồi bưng bát cơm mà nước mắt cứ rưng rưng.
Thầy tôi và chúng tôi có Sổ Gia Đình nên mỗi tháng được mua gạo hai lần. Tiệm gạo ở ngay cạnh nhà, ông bà chủ tiệm - ông bà Kinh - rất quí mên thầy tôi vì họ là bệnh nhân của thầy tôi lâu ngày, từ khi họ còn buôn bán đồ điện ở phố Khách.  
       Sau vụ đói, khi gặp lại, chị gái tôi kể cho tôi nghe về cảnh bi thảm và tận cùng của gia đình anh chị Thường. (Và có lẽ của hàng ngàn gia đình khác tương tự) Tôi nghe chị kể mới một đoạn đã òa lên khóc, chị cũng khóc nức nở như họ chính là những người ruột thịt máu mủ thương yêu  nhất đời, chúng tôi muốn bảo vệ, giúp đỡ họ mà không được.
       Ngày nay nghĩ lại, sau khi đổ lỗi hết cho đám người này đến đám người kia là thủ phạm vụ đói tháng Ba mà chẳng đi đến đâu, tôi lại nghĩ rằng dân tộc Việt quá bất hạnh, quá bạc phước. Có thể đổ cho tiền nhân đã ăn ở thất đức chăng? Giết người, chiếm thành, chiếm đất? Xóa sổ cả một dân tộc? Hay còn gì gì khác mà oan khiên cứ trải dài trước mặt như những con đỉa đói hút máu người? Mới tránh được cái “vỏ dưa” đô hộ của giặc Tàu 1,000 năm, giặc Tây 100 năm với thân phận nô lệ thì lại tiếp ngay cái “vỏ dừa” tồi tệ (bỏ một đoạn) do những trự triết gia khùng từ nơi nảo nơi nào vất vào chân, chịu liên tiếp đến nay hơn sáu thập kỉ đau nhục, chết chóc, điên loạn, đói khổ, chết cả 10 triệu người một cách phi lí vì cuộc chiến huynh đệ tương tàn vô nghĩa, mất cả .............. mà đến giờ này ...... đói khổ, lạc hậu vẫn .... chưa buông! 
 
 
 
                                          18
 
 
 
 
Chúng ta thử tưởng tượng hàng trăm ngàn gia đình bao gồm hai triệu người, ai cũng có người thân kẻ sơ, ai cũng tha thiết với gia tộc, đậm đà với tình làng nghĩa xóm mà vì đói nay chết rũ hết cả, xương tan thịt nát hết cả, biến mất trên cõi đời hết cả chỉ trong thời gian hơn một năm thì  sự  đau lòng ấy lấy gì mà đong  được?
       Tôi xin kể chuyện hai gia đình, một ở Kiên Lao, một ở Xuân  Bảng, thuộc phủ Xuân trường, Nam Định, gần làng tôi. Thực ra, còn nhiều gia đình tương tự ở rải rác khắp miền bị đói, Bắc Việt và Bắc Trung Việt đồng cảnh ngộ vì họ có những điểm chung nên chỉ kể sơ một để suy ra những gia đình còn lại.
       Điểm chung của họ là giầu, có thể gọi là ruộng sâu trâu nái, tư điền cũng phải vài, ba chục mẫu trở lên; nồi đồng mâm thau hàng mấy chục, trâu bò mấy con, thóc lúa đầy cót đầy bồ. Dân khá giả như thế vào thập niên 40 ở Bắc Việt và Bắc Trung Việt không có nhiều trừ một số biết cách làm tiền trong hàng quan lại hoặc làm ăn buôn bán lớn với người Pháp.  Có vài, ba mẫu ruộng tư nhất đẳng điền, trong cót có trăm thùng thóc, có bát ăn bát để, người hàng xã hàng tổng đã coi là giầu. Còn những người được tiếng là giầu nứt đố đổ vách như ông Tàu Hui Bon Hoa thường được gọi là chú Hỏa ở Sàigòn, một ông Tàu buôn bán ve chai khi mới sang Việt Nam sau đó trở thành tỉ phú có hàng dãy nhà ở Sàigòn; bà Nguyễn thị Năm ở Hải Phòng (bỏ một đoạn) sau bị xử bắn trong đợt I Cải cách ruộng đất), gia đình Bạch Thái Bưởi v.v...và nhiếu người tôi không biết, thì khá hiếm. Có thể nói miền Nam đa số người giầu hơn miền Bắc và miền Bắc nhiều người khá hơn miền Trung vì đất đai, địa dư, khí hậu, phong thổ v.v... nhưng đó không phải là điều đang bàn ở đây.
Bút Xuân chỉ muốn nói đất nước hai miền Bắc và Trung thời đó làm ăn khó khăn, phần nhiều là nông tang mà nông tang thì chịu ảnh hưởng thời tiết, khí hậu rất nhiều nên dăm, ba năm lại có một trận đói nhỏ, chết lai rai từng vùng do bão lụt hay mất mùa đói kém, kinh tế trầm trệ. Những năm được mùa thì làng xóm vui vẻ sầm uất lắm và có một điều đáng để ý là tình làng nghĩa xóm rất đằm thắm, quí mến tôn trọng người già, thương yêu trẻ nít, giúp đỡ kẻ tàn tật, ai theo đạo nấy nhưng sùng bái và thành khẩn, lương giáo đề huề. Đến giờ này, những vị đã bảy, tám, chín mươi tuổi còn sống cũng vẫn công nhận điều đáng quí đó ở cả ba miền Bắc Trung Nam. Nhưng như nhiều người nhận xét, cái nét phong hoá đáng yêu, đáng trọng ấy ngày nay đã mất hẳn kể từ 1945 chỉ vì chính trị đi vào trong làng xóm thì tình nghĩa đi ra ngoài, chỉ vì người ta đề cao chủ nghĩa (bỏ một đoạn) mà không nhớ rằng chính truyền thống dân tộc, tình yêu nước đã ăn sâu vào huyết thống, chính văn hóa cổ truyền “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”đã làm nên những kì tích Trưng, Triệu, Quang Trung, Lê Lợi, Hưng đạo Vương, Nguyễn thái Học và 12 liệt sĩ Yên Bái, Đề Thám, Yết Kiêu, Lý thường Kiệt, Trần quốc Toản và hàng ngàn anh hùng liệt nữ hào hùng khác của dân tộc chúng ta không thể kể hết. Sau 1945, người cùng làng, cùng tổng, cùng tỉnh hay cùng đồng bào với nhau không còn đối xử tương thân tương ái như thời kì Pháp thuộc trở về trước nữa mà nhòm ngó, dò xét nhau .... đến nỗi nhà này ăn cái gì nhà kia cũng biết và ngược lại. Con người đánh mất tình thương, nghĩa đồng bào xây dựng từ bao đời.Thật đáng tiếc cho truyền thống nhân hoà, cho tình làng nghĩa xóm ở nước ta (bỏ một đoạn) mà tan nát và thụt lùi sau nhiều nước ở Đông Nam Á như Singapore cả vài thế kỉ!! (bỏ một đoạn).Rốt cuộc nhân dân ta đã được những gì như chúng ta thấy ngày nay?
            (còn tiếp)
Nhà Văn Xuân Vũ  TRẦN ĐÌNH NGỌC
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
LIÊN KẾT WEB SITE

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc
CÁC DÒNG TU 
Dòng Chúa Cứu Thế VN 
Dòng Đồng Công (Hoa Kỳ) 
Dòng Ngôi Lời 
Dòng Chúa Cứu Thế (Hoa Kỳ) 
Dòng Thánh Tâm Huế 
Dòng Lasan 
Tỉnh Dòng Đa Minh VN 
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ 
Dòng Tên Việt Nam 
Dòng Phanxicô VN 
Giáo Hoàng Học Viện Piô X ( Đà Lạt ) 
Đại Chủng Viện Huế 
Đại Chủng Viện Vinh Thanh - GP Vinh 
Đại Chủng Viện Xuân Lộc 
Dòng Thánh Thể 
Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ 
Đan Viện Biển Đức Thiên Tâm (Hoa Kỳ)
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế 
Dòng Mến Thánh Giá LA (gốc Phát Diệm) 
Dòng Đức Mẹ Trinh Vương 
Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời 
Dòng Đaminh Tam Hiệp 
Dòng Don Bosco 
Tu đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa 
Dòng Thừa Sai Đức Tin VN 
Liên hiệp bề trên thượng cấp VN 
Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô 
Dòng Đồng Công (Việt Nam) 
Dòng Chúa Thánh Thần 
Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô 
Dòng Truyền Giáo Thánh Carôlô - Scalabrini 
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế
LỜI HẰNG SỐNG
Nghe Suy Niệm Hằng Ngày

Bài Giảng Lòng Thương Xót
 

 

HHTM TGP Sàigòn Tổ chức Hội Thi Thánh Ca Chủ đề “ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU NHỜ MẸ MARIA” tại thánh đường GX Sao Mai Hạt Chí Hòa Lúc 19g00 Ngày 28-05-2017. Mừng Kính 100 năm Đức Mẹ Hiện ra tại FATIMA.


Nhạc Thánh Ca

 

  Radio Vatican
 
Radio Veritas
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây