Truyền Thông Công Giáo Tin Vui

http://tinvui.org


THEO ĐỨC TIN CÔNG GIÁO CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT

Theo truyền thống của Hội Thánh Công giáo, từ mùng hai cho đến hết tháng Mười Một là thời gian được dành riêng cho những người đã khuất
THEO ĐỨC TIN CÔNG GIÁO CHẾT KHÔNG PHẢI LÀ HẾT
 
 
Theo truyền thống của Hội Thánh Công giáo, từ mùng hai cho đến hết tháng Mười Một là thời gian được dành riêng cho những người đã khuất. Những ngày này được dùng để liên kết các Kitô hữu còn sống trên trần gian với các linh hồn trong luyện ngục, sau khi liên kết họ với các Kitô hữu đã được kết hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa Ba Ngôi, được gọi là Các Thánh Nam Nữ, vào ngày đầu tiên của tháng này. Tháng Mười Một cũng là khoảng thời gian tập trung củng cố niềm hy vọng của các Kitô hữu còn sống trên trần gian vào sức mạnh - dù thầm lặng như hạt cải - của ân sủng Thiên Chúa: “Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được” (Mátthêu 13: 31-32). Hội Thánh kêu mời con cái mình cầu nguyện với Thiên Chúa, đặc biệt trong tháng Mười Một, để cả ba thành phần của một Hội Thánh duy nhất: Hội thánh Khải hoàn, Hội thánh Chiến đấu và Hội thánh Đau khổ, hiệp thông với nhau trong niềm tin vào mầu nhiệm các thánh thông công.
 
Như thế, dù cảnh vật thiên nhiên, vào những ngày cuối thu khoác một tấm áo vàng úa hay chớm đông se lạnh, u ám xác xơ tiêu điều, dễ khiến lòng người bâng khuâng trầm lắng, mặc tưởng về khoảnh khắc lặng lẽ kết thúc cuộc đời, ít nhiều đau buồn, thì cái chết không phải là sự hủy diệt tận cùng. Cái chết gây ra đau buồn bởi vì chết là giã từ cuộc sống, gửi lại cho đời tất cả những gì là thân thiết như vợ chồng, con cái, những người thân yêu, bỏ lại ngay cả tấm hình hài vốn là người bạn đời không rời, chung lối chung đường, quá đỗi gắn bó lâu dài, thế mà phải rời xa, và buông bỏ muôn vàn những điều khác nữa, tốt lành hay lầm lỗi thiếu xót. Nhưng suy tưởng của Hội thánh Công giáo về khoảnh khắc này không bao giờ là một thứ cảm nhận bi lụy u uất. Dù không tránh khỏi những giọt lệ rơi xuống khi chia lìa, nhưng nếu con người sống cuộc đời mình với lòng Tin Tưởng, Hy Vọng Cậy Trông, Mến Yêu Thiên Chúa, thì việc chết đi chỉ là một cuộc vượt qua cuối cùng - vượt qua lằn ranh giữa cõi đời tạm và cõi vĩnh hằng, vẫn trong Tin Tưởng, Hy Vọng để chuyển vào một ngôi nhà mới, một nơi ở mới: “Ngôi nhà của chúng ta dưới đất là chiếc lều này bị phá hủy thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, ngôi nhà vĩnh cửu trên trời không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1-5). Trong nơi ở mới này, nghĩa là trong Ðức Kitô vinh hiển ngự trên trời, các Kitô hữu lại tiếp tục sự hiện hữu vốn không bao giờ mất đi của chính mình, trong Mến Yêu, mạnh mẽ hơn, trong sáng vô tư hơn, vui mừng hân hoan hơn, như trong một ngày hội:
Khi Chúa dẫn tù nhân Xion trở về,
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
Vang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán:
"Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay! "
Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại!
ta thấy mình chan chứa một niềm vui
(Thánh vịnh 126).
 
Thánh Cyprianô nói: “Bạn sẽ được vinh quang và hạnh phúc biết bao: khi bạn được Thiên Chúa tiếp nhận để thấy Ngài, được vinh dự hưởng niềm vui cứu độ và ánh sáng vĩnh cửu cùng Đức Kitô, Chúa của bạn... Trên Thiên Quốc, bạn được hưởng niềm vui của sự bất tử cùng với những người công chính và những bạn hữu của Thiên Chúa” (T.Cyprianô, thư 56,10,1).
 
Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo còn viết “Khi nói về mầu nhiệm này, Kinh Thánh dùng những hình ảnh như sự sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu mới trong Nước Trời, nhà Cha, Thành Giêrusalem Thiên Quốc, Thiên Đàng: “Điều mắt chẳng hề thấy, điều tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ đến, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Ngài (1Cr 2,9)” (GLGHCG 1027).
 
Nhưng có phải mọi sự đương nhiên sẽ diễn ra trong ánh sáng và bình an như vậy cho tất cả mọi người không?  Dĩ nhiên là không! Vì niềm vui đầy ánh sáng và bình an ấy còn tùy thuộc vào việc chọn lựa cách suy nghĩ và lối sống của mỗi con người trong cõi đời phàm trần này.
 
Bất kể tôn giáo nào, cái chết là một con đường mà tất cả mọi người sẽ phải đi qua. Cái chết vẫn là một vấn nạn hiện sinh lâu dài. Con người vẫn mãi bị cái chết ám ảnh và việc các tôn giáo nghĩ tưởng gì về cái chết là việc đáng quan tâm. Để làm sáng tỏ tầm nhìn về cái chết trong các tôn giáo lớn, giáo sư Alain Bouchard, giảng viên tại Khoa Thần học và Khoa học Tôn giáo tại Đại học Laval và là điều phối viên của Trung tâm Tài nguyên và Quan sát đổi mới tôn giáo (Believe), cung cấp một cái nhìn tổng quát về cái chết theo các tôn giáo như sau:
 
Đối với Ấn Độ giáo:
“Ấn Độ giáo tiếp cận cái chết như là đau khổ, và vẫn là một bí ẩn mà ngay cả những nhà hiền triết vĩ đại nhất cũng không bao giờ giải quyết hoàn toàn thành công. Tín đồ Ấn Độ giáo cho rằng chính vì sự nặng nề của cái tự ngã xấu xa thô thiển và những sắc dục bị giới hạn của họ đã khiến họ bị cuốn vào dòng chảy của những kiếp luân hồi. Những pháp tu khác nhau, còn gọi là yoga, cho phép người tu tập khám phá ra cái bản ngã chân thực gọi là Brahman – Đại ngã để vượt lên khỏi những kiếp luân hồi nhằm đạt tới phía bên kia của cuộc hành trình, đến nơi mà người ta không còn đầu thai hóa kiếp nữa. Đa số những người theo Ấn Độ giáo hy vọng được đầu thai vào một kiếp tốt lành hơn sau cái chết ở đời này. Những người Ấn Độ giáo thực sự giác ngộ chỉ cậy dựa vào việc khám phá ra Chân ngã, đồng nhất với Đại ngã - Brahman, và vào sự giải thoát khỏi vô lượng kiếp, dù thiện hay ác”.
 
Đối với Phật giáo:
“Phật giáo chấp nhận quan niệm của người Ấn Độ giáo về sự luân hồi vốn phụ thuộc vào hậu quả của các hành động thiện nghiệp hay ác nghiệp, nhưng còn đi xa hơn bằng cách phản đối quan niệm về một Chân ngã tâm linh. Cảm nghiệm tột cùng mà Phật giáo đề xuất, đó là Nirvana - Niết bàn, vượt ra khỏi mọi khái niệm. Phật tử chân chính phải buông bỏ ngay cả những khái niệm về tiểu ngã - atman, kể cả khái niệm về một Thượng đế tối thượng. Phật giáo không phải là một loại chủ nghĩa vô thần theo nghĩa là Đấng Tối thượng không tồn tại. Đạo Phật tìm cách dập tắt mọi ái dục nơi mình, ngoại trừ ham muốn được giải thoát, và nương náu trong một sự im lặng mà đỉnh điểm là cái chết, một cảm nghiệm an tịch và viên mãn, được gọi là viên tịch”.
 
Đối với Do Thái giáo:
“Trong Do Thái giáo, cái chết không phải là điều gì kinh khủng, nó là một phần không thể thiếu trong trải nghiệm của con người; nó được Thiên Chúa chấp nhận như một lẽ tự nhiên đúng ý muốn của Ngài. Chết không phải là chấm hết cuộc đời, nếu thể xác trở về cát bụi thì linh hồn trở về với Đấng Tạo Hóa của nó. Tôn giáo là chuyện ở đây và bây giờ, còn điều gì bên kia cái chết không có mấy chỗ đứng trong Do Thái giáo. Sự e dè này đối với cái chết minh chứng cho niềm hy vọng về một cuộc sống tương lai, vốn đã được khắc ghi trong cuộc sống ở hạ giới rồi. Những lời giảng dạy trong Do Thái giáo có nói về một sự phục sinh diễn ra khi kết thúc thời gian. Sự sống lại này được khai mở nhờ sự tái lâm của đấng cứu thế đã được hứa ban. Cái chết vì thế chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp của cuộc đời, linh hồn sẽ đi gặp gỡ các linh hồn của tổ tiên”.
 
Đối với Hồi giáo:
“Đối với Hồi giáo, Thượng đế là nguồn gốc và là đích đến của mọi thứ. Con người ở trên trần gian là để thờ phượng Đấng Tạo Hóa của mình bằng cách đặt mình phục vụ Ngài qua việc làm điều tốt, họ phải chứng minh rằng mình xứng đáng trở về với Thiên Chúa sau khi chết. Cái chết không phải là một hình phạt, nó là số phận tất yếu của con người, nó là một giai đoạn chuyển tiếp dẫn đến một cuộc sống khác, sau khi sống lại và sau sự phán xét cuối cùng. Bước quan trọng nhất của cuộc phán xét này là cân đong các hành vi trên một chiếc cân, mỗi người sẽ được nhận phần thưởng hoặc hình phạt xứng đáng tùy theo hành vi của mình. Một khi tội lỗi của mình đã được chuộc lại, người tín đồ sẽ có thể tận hưởng sự sống đời đời trong sự hiện diện của Thượng đế Allah”.
 
Còn đối với Kitô giáo:
“Kitô giáo coi cái chết là một cớ vấp phạm, là kết quả của những giới hạn của con người và tội lỗi của họ. Chỉ nhờ Chúa Kitô đã vượt qua sự chết và vẫn sống ra khỏi cõi chết, gọi là sự sống lại, mà con người mới có thể được giải thoát khỏi sự chết. Ngay cả khi Kitô hữu bị cám dỗ áp dụng quan niệm của Platon về linh hồn thiêng liêng bất tử, thì không giống như triết gia này, Kitô hữu vẫn khẳng định rằng sự bất tử không phải tự nhiên mà có đối với con người và chỉ có thể là một ân huệ của Thiên Chúa. Chính vị Thiên Chúa này đã cho con người bắt đầu hiện hữu và việc họ hiện hữu bao lâu chỉ là do Thiên Chúa muốn. Kitô giáo chưa bao giờ bị cám dỗ bởi niềm tin vào sự đầu thai luân hồi, ngoại trừ một vài trào lưu tư tưởng bên lề.” [1]
 
Khởi điểm niềm tin Kitô giáo là sự khẳng định về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, được coi là Đấng Mêsia, trong tiếng Hy Lạp là Christos. Đây là điều mà sứ đồ Phaolô nhấn mạnh khi nhắc nhở chúng ta:
 “Mà nếu Chúa Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Chúa Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Chúa Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Chúa Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Chúa Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Chúa Kitô, rồi khi Chúa Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Ngài. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Ngài đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.Thật vậy, Chúa Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Chúa Kitô. Mà khi nói muôn loài, thì dĩ nhiên không kể Đấng đặt muôn loài dưới chân Chúa Kitô” (1Co 15:17-27).
 
Bằng cách làm cho Chúa Giêsu sống lại, Thiên Chúa mở đường cho sự phục sinh của con người vào thời gian sau hết. Sự phục sinh này của con người đã hiện hữu trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, và đồng thời, sẽ diễn ra cho toàn nhân loại. Do đó, thời gian tại thế này đặt ra câu hỏi về việc chuyển tiếp trong tương lai của thể xác và linh hồn của người đã khuất, một câu hỏi day dứt đôi khi bị nhấn chìm trong nhũng suy nghĩ thực ra chỉ là suy đoán.
 
Truyền thống trong Giáo hội Công giáo phân biệt hai lần phán xét sau khi chết: lần đầu tiên gọi là phán xét riêng khi một người bị chết:
Ngay khi lìa khỏi xác,linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để đụợc thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Chúa Kitô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện (Cđ Lyon: DS 857- 858; Cđ.Florence: DS 1304-1306; Cđ.Trente: DS 1820) hoặc được hi7ởng phúc trên trời (Benoit XII: DS 1000-1001; Gioan XXII: DS 990) hoặc sa địa ngục vĩnh viễn (Benoit XII: DS1002).” (GLGHCG số 1022).
Trong khi đó sự phán xét chung sẽ diễn ra khi tận thế với việc trở lại của Chúa Kitô:
Phán xét chung sẽ diễn ra ngay sau khi mọi người đã chết được sống lại, "người công chính cũng như kẻ có tội" (Cv 24,15) sống lại. Đó sẽ là “giờ các kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng Người Con và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành thì sẽ  sống lại để đƣợc sống, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án: (Ga 5,28-29). Khi Con Người "vinh hiển quang lâm, có toàn thể thiên sứ theo hầu... Các dân thiên hạ sẽ tập hợp trước mặt Ngài, và Ngài sẽ tách biệt họ như mục tử tách biệt chiên với dê. Chiên thì đặt bên phải, dê thì đặt bên trái...Thế là bọn này sẽ phải ra đi vào chốn cực hình muôn kiếp, còn những người công chính sẽ được lên hưởng phúc trường sinh (Mt 25,31.32.46).” (GLGHCG số 1038).
 
Hai lần phán xét này xuất phát từ ý niệm linh hồn bất tử, dưới ảnh hưởng của triết học tân Platon. Khi thể xác chết đi, linh hồn bất tử hiện diện trước mặt Thiên Chúa trong một cuộc phán xét riêng, linh hồn hoặc vượt qua thử thách và hưởng kiến Thiên Chúa, hoặc được thanh luyện bằng cách ở lại trong Luyện ngục, một loại “phòng chờ” trước khi vào thiên đàng. Chỉ khi thời gian kết thúc, con người mới tìm thấy định mệnh cuối cùng của mình, linh hồn bất tử kết hợp lại với thân xác phục sinh. Sự phục sinh sẽ là sự hoàn thành lịch sử của mỗi cá nhân cùng với căn tính riêng của họ được bảo lưu trọn vẹn.
 
Trong thực tế, niềm tin Kitô giáo vào sự phục sinh “của thân xác” không phải là không bị đặt nghi vấn trước tập tục hỏa táng. Nhất là ngày nay, nhu cầu hỏa táng đang ngày càng tăng: theo thống kê tính đến năm 2019 thì tỉ lệ hỏa táng tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đã đạt hơn 50%. Dự kiến đến năm 2025 tỉ lệ trên sẽ tăng lên khoảng 65-70% . [2] Hỏa táng là một tập tục bị lên án lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 19. Sau đó vào ngày 5.7.1963, trong Huấn thị Piam et constantem Bộ Thánh Vụ lúc ấy đã quy định phải “trung thành giữ thói quen chôn cất thi hài các tín hữu”, tuy nhiên vẫn nói thêm rằng việc hoả táng “tự bản chất không nghịch với Kitô giáo” và không được từ chối cử hành bí tích và nghi lễ an táng cho những người muốn được hoả táng, với điều kiện việc chọn cách thức hoả táng không phải vì lý do “chối bỏ giáo thuyết Kitô giáo, có ý định ly khai, hoặc vì muốn chống đối Giáo Hội công giáo hay Hội Thánh” [3]. Sự thay đổi này sau đó đã được đưa vào Bộ Giáo Luật La tinh (1983) và Bộ Giáo Luật của các Giáo Hội Đông phương (1990). Nghi thức mới, lần đầu tiên bằng tiếng Latinh, được dịch sang tiếng Việt vào ngày 21-11-1970, nhắc lại rằng sứ mạng của Giáo Hội không chỉ là nói đến cái chết mà còn nói đến sự phục sinh của Chúa Kitô, tức là cái chết của cái chết. Sách nghi lễ Rôma cổ xưa năm 1614 nhấn mạnh đến nỗi đau buồn và nỗi sợ bị phán xét hơn là hy vọng về sự sống lại.
 
Dựa theo các nguồn kinh thánh: từ chết được sử dụng ít nhất 500 lần trong Tân Ước. Việc sử dụng nhiều lần như thế là điều dễ hiểu vì cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu kết thúc bằng một cái chết bi thảm, Chúa Giêsu phải gánh chịu cái chết đó trong sầu não như một con người, chứ Tin Mừng không xóa bỏ đi thực tế ấy. Nhưng khi xem xét kỹ hơn, từ chết được sử dụng theo hai nghĩa, theo nghĩa xa xưa là cái chết thể xác, sự qua đi của một con người, nhưng nó còn có nghĩa là một cuộc sống bị cắt đứt khỏi Thiên Chúa, khỏi cội nguồn của nó, vì chính hơi thở của Thiên Chúa làm cho sống: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (Stk 2: 7), đó là một cuộc sống thu hẹp vào chính mình. Theo nghĩa cuối cùng này, chúng ta phải hiểu cái chết là tiền công của tội lỗi: “Vì lương bổng của tội là sự chết” (Rôma 6: 23), của lỗi lầm gây tai tiếng của Ađam. Ađam vi phạm điều cấm bằng cách ăn trái biết lành biết dữ, điều đó có nghĩa là Ađam quyết chí tự xây dựng bản thân mình, tự cung tự cấp, từ chối chấp nhận mình là hữu thể giới hạn: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.” (Stk 3: 7). Tuy nhiên, điều cấm đó lại là cái làm cho con người có tự do, có sự lựa chọn giữa Sự sống (với Thiên Chúa) hoặc cái chết (tách khỏi Thiên Chúa). Quả thật cái chết thiêng liêng này thường được nhắc đến trong Tin Mừng, chẳng hạn liên quan đến dụ ngôn về đứa con hoang đàng: người cha chào đón con mình theo những cách sau: “Con trai tôi đây đã chết và nay nó đã sống lại” (Luca 15: 24).
 
Văn bản của Tân Ước rõ ràng hơn nhiều so với tất cả những mô tả đáng sợ về thế giới bên kia được tạo ra bởi trí tưởng tượng của con người từ thời Trung cổ. Sự sống lại tự nó không phải là một kết thúc, nhưng là một phương tiện để trở lại với Thiên Chúa. Cái chết được nhìn nhận là dấu hiệu của sự hữu hạn của con người, nhưng lại là hy vọng về một sự chuyển tiếp hướng đến sự sống, một cuộc sống trọn vẹn hơn với Thiên Chúa. “Qua cái chết, Thiên Chúa gọi chúng ta về với Ngài. Vì thế đối với cái chết, Kitô hữu có thể mong ước như
Thánh Phaolô: “Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Chúa Kitô” (Pl 1,23); theo gương Chúa Kitô, họ có thể biến cái chết của mình thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha (Lc 23,46)” (GLGHCG số 1011). Thiên Chúa của Kitô hữu là một Thiên Chúa của sự sống. Thánh Têrêsa Hài Đồng nói những lời sau cùng trên giường bệnh: “Tôi không chết, nhưng đang bước vào cõi sống” (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Truyện Một Tâm Hồn). Chẳng phải khi ai đó chết chúng ta vẫn thường nói: “Thiên Chúa đã thương gọi ông Giuse…/ bà Maria…về với Ngài”. Cái nhìn của người Kitô hữu về cái chết là cái nhìn tin tưởng vào một tình yêu thánh thiêng vốn mạnh hơn sự chết:
 
Phải, tình yêu mãnh liệt như tử thần,
cơn đam mê dữ dội như âm phủ.
Lửa tình là ngọn lửa bừng cháy,
một ngọn lửa thần thiêng.
(Diễm ca 8: 6) [5]
 
Vì “Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống,  vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống.” (Luca 20: 38).
Và: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Gioan 11: 25-26).
 
Do đó, Đức Thánh Cha Phanxicô nói  rằng sự chết giết chết “sự hão huyền về “ảo tưởng toàn năng” của chúng ta và dạy chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự sống. Điều này mang lại cho chúng ta sự tự tin để nhảy vào khoảng trống và nhận ra mình sẽ không rơi xuống, không bị chìm vì ở đó luôn có một Đấng nắm lấy chúng ta. Cả trước và sau sự kết thúc” [4].
 
Trưa thứ Hai sau Chúa Nhật Phục Sinh, 05/4/2021 vừa qua, Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi đọc Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng từ Thư viện dinh Tông Toà, Ngài nói: “Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi tìm kiếm Đức Kitô Phục sinh, Đấng ban sự sống dồi dào cho những ai gặp Ngài. Tìm kiếm Đức Kitô có nghĩa là khám phá sự bình an trong con tim... tôi ước mong mọi người cũng có được cảm nghiệm thiêng liêng như vậy, đón nhận trong tâm hồn, trong nhà và trong gia đình mình Tin Mừng Phục sinh: “Chúa Kitô Phục sinh không còn chết nữa, cái chết không còn quyền trên Người” (Ca Hiệp Lễ). Lời loan báo Phục sinh, Chúa Kitô đang sống, Chúa Kitô đồng hành với cuộc sống của tôi, Chúa Kitô ở bên cạnh tôi. Chúa Kitô gõ cửa trái tim tôi, để cho Ngài vào, Chúa Kitô đang sống.”
 
Một câu chuyện ngắn về bé gái cùng người tài xế taxi.
“Tôi: Này bé, đừng nghịch xe của chú taxi, chú dậy chú la con đó.
Bé: Dạ con có nghịch đâu, con trông xe cho ba con ngủ mà.
Tôi: Chú lái xe là ba con hả?
Bé: Dạ vâng, ba sợ con ở nhà một mình buồn nên mang con đi theo.
Tôi: Thế má con đâu?
Bé: Con không biết, lâu lắm rồi con không gặp má.
Anh taxi ngái ngủ vươn vai: Má nó bỏ nhà đi lâu lắm rồi anh, anh có đi taxi không?
Tôi: Dạ có, cho tôi ra Trường Chinh.
Bé thấy vậy cười tít mắt: Hoan hô ba, lại có thêm khách rồi. Ba con mình đi thôi.
 
Đây là một mẩu đối thoại ngắn của một người khách cùng cô bé con và ba của bé. Thấy bé chơi bên chiếc taxi, người khách đã tiến đến nhắc nhở vì sợ bé gây phiên hà cho người tài xế. Tuy nhiên, hóa ra chủ nhân chiếc taxi là ba bé. Ba đưa bé đi cùng vì sợ con gái ở nhà một mình không ai trông, không ai chăm sóc. Nhìn bé gái thoải mái vui đùa bên chiếc xe, nhiều người thấy xót xa. Cả ngày rong ruổi theo xe của ba trên các cung đường, bé chẳng có nổi một giấc ngủ tử tế. Ấy vậy, bé vẫn vô cùng hạnh phúc vì được ở bên ba, hớn hở vui sướng khi ba có khách đi xe. [6]
 
Tôi suy nghĩ miên man và thấy bóng dáng của Thiên Chúa là Cha nhân lành trong hình ảnh người cha lái taxi. Tôi cũng thấy bóng dáng của tôi trong hỉnh ảnh cô bé gái. Tôi hình dung Chúa lái xe cho tôi đi cùng trong những chuyến hành trình của Ngài vì Ngài lo lắng, muốn chăm sóc, giữ gìn tôi bên Ngài. Ngài không muốn để tôi xa Ngài. Và cũng chính Ngài, trên chiếc xe “làm ăn” của Ngài, sẽ chở tôi về nhà Cha sau khi Ngài và tôi kết thúc một ngày làm việc rong ruổi trên mọi nẻo đường đời, là cuộc đời của tôi, như lời thánh vịnh:
Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài cho tôi nằm nghỉ.
Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Ngài.
Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Ngài
những ngày tháng, những năm dài triền miên”.
(Tv 22)
“Bé vô cùng hạnh phúc vì được ở bên ba, hớn hở vui sướng khi ba có khách đi xe”. Tôi muốn thay chữ bằng chữ tôi, và chữ ba bằng chữ Chúa:
“Tôi vô cùng hạnh phúc vì được ở bên Chúa, hớn hở vui sướng khi Chúa có khách đi xe”.
 
 
Phêrô Phạm Văn Trung.
 
Tham khảo:
[1] https://www.quebechebdo.com; https://www.budsas.org
[2] https://tangletrongoi.com.vn
[3] AAS;56 (1964), 822-823.
[4] Tại cuộc gặp gỡ Quốc tế của người trẻ lần thứ IV do Scholas Occurrentes và World Ort tổ chức tại Mexico, bắt đầu từ ngày 28/10 tại thành phố Mexico, với hơn 250 tham dự viên đại diện cho 60 thành phố trên khắp thế giới, và kết thúc vào ngày 31/10/2019.
[5] https://www.institut-jacquescartier.fr
[6] https://soha.vn
 
 
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây