Truyền Thông Công Giáo Tin Vui

http://tinvui.org


BAO GIỜ CHO ĐẾN THÁNG MƯỜI

Phép ngắm Rôsa nguyên cội rễ

Suy ơn chuộc tội loài người thế

Tử sinh nhi tử tử nhi sinh

Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể
BAO GIỜ CHO ĐẾN THÁNG MƯỜI

 BAO GIỜ CHO ĐẾTHÁNG MƯỜI

 

 Lê Đình Bảng

Phép ngắm Rôsa nguyên cội rễ

Suy ơn chuộc tộloàngười thế

Tử sinh nhi tử tử nhi sinh

Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể

Lạy ơn rấthánh Đức Bà

Xin vì phép ngắm Rôsa thánh này

Ban ơn sói sáng bởi trời

Cùng ban sự sống đời đời cho con

(Văn Côi Thánh NguyệTáTụng Thi Ca, 34-40)

 

1. Chẳng ai rõ việc đọc kinh Mân côi (MC), lần hạt MC hoặc lần chuỗi Môi Khôi đã du nhập vàocác cộng đoàn người Công giáo Việt Nam từ đời thuở nào và bằng cách nào. Cứ lẽ thường là do các giáođoàn dòng Đa minh hoặc dòng Tên. Có thể gặp thấy bóng dáng việc đạo đức thiêng liêng này tản mạn đóđây khi đọc những trang bút ký của cha Đắc Lộ, ngay từ những thời điểm vỡ đất gieo hạt 1615-1625và1644 ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.

Chẳng hạn, nhân một buổi ca múa nghệ thuật nghê thường trong phủ chúa Trịnh Tráng: “Chúaphángười đưa mộchiếthuyềnhỏ sơn son thếvàng đếđóvà đưa chúng tôi tớthuyềNgài, nơiNgàmuốn cho chúng tôi dự buổi ca múa. Chúng tôi trịnh trong đi theo và thấChúa ham thích cách tiêukhiển tao nhã này. Chúa cho chúng tôi được hân hạnh ngồcạnh Chúvà hỏi trong xứ chúng tôi người tađàháthế nào… Khi chúng tôi nóthì Chúđể ý tớcỗ tràng hạĐức Trinh Nữ buộở thắt lưng tôi.Chúliền xin, rồi đeo vàcổ đứchágáđã 3 năm đau bệnh đang ngồi trên lòng Chúa”.

Chẳng hạn, ngày mồng 2 tháng 7 năm 1627: “Chúng tôi vàphủ Chúvà kinh thành kẻ chợ… bàCatarina là người ham mê họhỏvà suy ngắcámầnhiệvà vì bà rấgiỏvề thơ bảxứ, nên bà đã soạbằng thơ rất hay tấcả lịch sử giálýtừ tạo thiên lậđịa cho đếĐức Kitô giáng thếcuộđời, sựthương khóphục sinh và lên trời…

 Tác phẩnàrấcó ích vì không những giáo dân tân tòng ngâm nga trong nhà thờ, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân khi ca hávà thích thú về lời ca dịdàng thì cũng họcbiếnhững mầnhiệvà chân lý đức tin”.

Đúng là chốn kinh kỳ ngàn năm văn vật. Ngay buổi hừng đông, Tin mừng đã được rao giảng và đón nhận trong khung cảnh hào phóng và nên thơ của một thi xã, thi đàn, rất đậm đà tình nghĩa của một dân tộc quý sĩ trọng văn.

Và năm 1644, khi vừa đặt chân tới tỉnh Quảng Bình, cha Đắc Lộ viết:

Ở đây, tôi gặmộgiáo dân rấnhiệthành vốlà nhà binh lâu năm, tên là Phanchicô. Ông và vợ là Têrêxa, cả hai sống rất nhân đức. Một hôm, ông thấcó ảnh ĐứMẹ Mân côi trong tay mấngười lương dân, ông bèbỏ tiền ra mua lạvớgiá khá đắvà từ đó ông đặnh này lên bàthờ trong nhà để ngày đêm đếđọc kinh kính viếng… Tôi cho hộtấcả mọngườở nhà ông như là nhà thờcònhà nguyện riêng của ông bà có trưng bành ĐứMẹ làm quan thầbảvệ thì được trang hoàng rấlộnglẫy. Ông tôn sùng ĐứMẹ đếnỗi không bao giờ đặt chân vànhà nguyệmà không lo rửsạch linhhồn, không hãmình trước, như ông đã thú với tôi”.

Rất tiếc cho đến nay – qua thiên biến vạn hóa của trời đất và cấm cách nhiễu nhương của thời cuộc – đi tìm những bản kinh văn quý báu trên chỉ còn là nỗi tiếc nhớ mang tính huyền thoại, đã trở thànhtruyện mò trăng dưới nước mà thôi.

Cũng may thửa mạ xanh non của những người đi khai phá ấy đã lại đơm hoa kết trái bởi công sứccủa các thế hệ kế thừa. Họ bằng lòng ẩn danh đằng sau mảng văn học dân gian nhà đạsuốnhững thế kỷ XVII, XVIII và XIX đã làm nên hơi thở và máthịt nuôi sống đức tin, lòng đạcủngườtíhữViệt Nam.

 

2. Ở đây trong khuôn khổ một bài viết nhỏ, kẻ viết bài này chỉ muốn giới thiệu với độc giả mộtbản ca vãn rất phổ biến, mang tên Văn Côi Thánh NguyệTáTụng Thi Ca (VCTNTTTC) do cụ cử nhânPhạm Trạch Thiện (quê làng Cổ Ra, Nam Định) biên soạn vào thời Tự Đức, mà dân gian nhà đạo quenmiệng gọi là Vãn Mân Côi, Ca Mân côi hoặc Phép Ngắm Rôsa.

Nói đến ca vãn là nói đến nỗ lực khai phá, một vượt thoát khỏi niêm luật cũ của thơ Nôm ta.Những tác phẩm thuộc dạng này trong văn học Việt Nam không nhiều nhặn gì, nếu đem đối chiếu với kho tàng sung mãn của thơ phú, truyện ký và khúc ngâm.

Trường hợp của những Gia Huấn Ca, Côn Sơn Ca, Quỳnh Uyển Cửu Ca, Hà Thành Chính Khí Ca,của Tự Tình Vãn, Thần Tích Vãn, Ngọa Long Cương Vãn, Tư Dung Vãn, Ai Tư Vãn chỉ là một chùm sao lẻ loi chợt lóe lên trong khoảnh khắc, với một biến cố nào đó, rồi tắt ngấm, không chút dư vang.Thậm chí, cũng rất hiếm thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này.

Lạ lùng thay, đối với nghệ sĩ dân gian nhà đạo, ca vãlà một phương tiệdiễđạphổ biếnhất,hiệquả nhấđể rao giảng Tin mừng, để thể nghiệnhững sáng kiến mang tính dân tộvề phụng vụ.

Dễ đến con số 40 tập, hình thành một bộ phận khá bề thế, không thể thiếu vắng, nếu muốn nghiêncứu và đánh giá nghiêm túc về văn học Kitô giáo ở Việt Nam.

Càng lạ lùng hơn, có lẽ chỉ có người Công giáo Việt Nam mới xưng tụng Đức Mẹ bằng thứ ngônngữ lễ nghĩa, cung kính là Đức Bà, Đức Chúa Bà! Mảng ca vãn này tập trung khá nhiều đầu sách, chiếmtỷ lệ không nhỏ trong thư mục Công giáo xưa:

Imprimerie de Kẻ Sở 1920-1925 ( Rosario Đức Bà, Tháng Đức Bà, Mân côi Nguyệt, Tháng Rosario). Phú Nhai Đường 1916-1927 (Sách Tháng Rosario Đức Bà Sổ Các phép Indu Họ Rosari, Tháng Rosa).

Imprimerie de Nazareth Hồng Kông (Société des Missions – Etrangères de Paris-Catalogue 1920):Đức Chúa Bà Tự Tích Vãn (Poème sur la Sainte Vierge), Thánh Mẫu Phương Danh Kim Thư (Glories de Marie), Sách tháng Đức Chúa Bà (mois de Marie), Vãn Đức Chúa Bà Môi Khôi, Prière du RosaireMéditées, Neuvaine de Prières en I`honneur du S.Rosaire, Bổn Giải Phép Lần Hột Chuỗi Thánh Mẫu Môi Khôi (Cathéchisme du Rosaire);

Trung Hòa Thiện Bản, Hà Nội 1926 (Phép Lần Hạt Rosario Đức Bà);

Imprimerie de la Mission Sài Dòn – Tân Định 1922 (Ân Tứ Môi Khôi cùa P.M. Đức, Tháng ĐứcChúa Bà của Mgr.Miche).

Còn đối với công chúng nhà đạo thì việc đón nhận mảng văn học này trong một tâm tình đạo hạnhrõ rệt. Nó vừa là kinh đượm mùi thần học, tín lý, được biên tập và chuẩn nhận để cầu nguyện. Là vãnđược thi ca hóa, vần điệu hóa để ngâm ngợi, lại vừa hàm chứa những cung giọng trầm bổng, ai bi, hưngphấn của ngôn ngữ âm nhạc dân gian để mỗi người hoặc cả cộng đoàn ca xướng.

Tưởng không phải là cổ tích, khi nghe kể rằng, ông bà cha mẹ mình thuở trước chữ nghĩa chẳngbằng ai, ấy thế mà ru con dạy cháu răn đời cứ là đọc lên vanh vách những ca dao tục ngữ, những lẩyKiều, những hò Lục Văn Tiên hoặc ngâm nga những Sấm Truyền Ca, Truyện Alêxù, Dâng Hoa, DângHạt, Vãn Đức Bà Rosa hoặc Ca Vè Cụ Sáu…

Như thế, có nghĩa là trong văn hóa, sẵn có những nhân tố không thể phân giải bằng lý tính, mà chỉ cảm nhận bằng trái tim. Nhà lý luận văn học đọc truyện Kiều bằng bộ óc thi pháp, soi rọi bằng điển cố,bằng quan điểm này nọ. Còn kẻ nhà quê chân chất thì lại nhớ Kiều, thuộc Kiều, yêu Kiều bằng tai, bằngmiệng và nhịp đập của con tim. Như cỏ cây uống giọt sương, hít thở khí đất và ánh sáng của ngày vàđêm. Văn hóa nghệ thuật của bất cứ dân tộc nào, vì thế, luôn tồn tại và phát triển trong điều kiện tự nhiênấy.

 

3. Về nội dung, Văn Côi Thánh NguyệTáTụng Thi Ca là một suy niệm về mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu.

Về hình thức Văn Côi Thánh Nguyệt Tán Tụng Thi Ca là một trường thiên, bởi nó bao gồm 252 câu thơ đi liền hơi, liền mạch, liền vần. Thể thơ được tác giả sử dụng ở đây là một thể thơ phức hợp khá ngoạn mục, hiếm thấy. Nó kết cấu, đan xen giữa thất ngôn, song thất lục bát, khác hẳn cách kết cấu theo chu kỳ cố định của một khổ thơ song thất lục bát mà ta thường gặp (1 cặp thất ngôn + 1 cặp lục bát) trongcác tác phẩm Chinh Phụ, Cung Oán Ngâm Khúc.

Xin trưng dẫn ra đây một vài trích đoạn:

Mùa vui (từ câu 41 đến 48):

Chúa toan cứchuộc các sinh linh

Sai Sứ truyền tin thánh Tử sinh

Thánh Mẫu dâng mình theo ý Chúa

Chịu thai nguyên vẹđức đồng trinh

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay

Xin vì sự nhiệm mầnày, rủ thương

Cho con lòng vững đá vàng

Vâng theo ý Chúa mọđàng, đừng sai

 

 

Mùa thương (từ câu 97 đến 108):

Sự vui qua, sự sầlại kế

Lóng ĐứBà như bể dạt dào

Khi thấy con chịkhốn khó bao

Thì Người cũng phải đau đớn hết

Chúa vàcầnguyện trong vườn Giệt

Thấy tộloàngườlòng thảm thiết

Máu lộmồ hôi đổ tóa ra

Phó mình vànộtòa quan xét

Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay

Xin vì sự nhiệm mầnày, thẩm thương

Cho con được sứvững vàng

Chịu nhiềsự khó Chúthường định cho

 

Mùa mừng (từ câu 157 đến 168):

Sự thương khó đà qua khỏi lúc

Những sự mừng bỗng chốc tiếp theo

Vì các ơn rấcảrất nhiều

Đức Mẹ đượkể sao cho xiết.

Xác quàn hang đá khỏi ba ngày,

Sống lại uy nghi sáng láng thay.

Đức Mẹ thấy con, mừng quá bội

Tông đồ mặt , bỗng nên tươi

Lạy ơn Đức Mẹ cam thay

Xin vì sự nhiệm mầnày đoái thương

Cho con sạch tộmọi đàng

Cùng tin mọsự tỏ tường ngày sau.

  

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây