THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: BÁCH NIÊN SINH NHẬT (18/5/1920 - 2020)

Thứ hai - 18/05/2020 15:12
THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II: BÁCH NIÊN SINH NHẬT (18/5/1920 - 2020)
Khi Hồng Y Wojtyla được chọn làm Vị Thừa Kế Thánh Phêrô ngày 16/10/1978, thì Giáo Hội đang ở trong một tình trảng thê thảm. Những luận cứ của Công Đồng này đã được dẫn giải công khai như là một thứ tranh cãi về chính Đức Tin, những tranh luận dường như đánh mất đi tính chất vô ngộ và vững chắc của Công Đồng. Chẳng hạn có một vị linh mục Bavarian coi xứ đã nhận định về tình trạng này khi nói rằng: 'cuối cùng chúng ta đã đi đến chỗ tin tưởng sai lầm'.
 

  Nội Dung

ĐGH Biển Đức XVI - Thư Gửi

ĐTC Phanxicô - Lời Ngỏ 

ĐTGM Balan - Giai Thoại

Đaminh Maria cao tấn tĩnh, tổng hợp và chuyển dịch

 

ĐỨC GIÁO HOÀNG HƯU TRÍ BIỂN ĐỨC: THƯ GỬI CÁC VỊ GIÁM MỤC BALAN

Nhân Dịp Mừng Kỷ Niệm 100 Năm Sinh Nhật (18/5/1920-2020) của Vị Tiền Nhiệm Gioan Phaolô II

 

Sau khi bị phân chia trên 100 năm bới các quyền lực lân bang chính là Phổ - Prussia, Nga - Russia và Áo - Austria, Balan đã lấy lại nền độc lập của mình vào cuối Thế Chiến Thứ Nhất. Chính biến cố lịch sử ấy đã phát sinh ra một niềm hy vọng lớn lao; thế nhưng nó cũng đòi hỏi nhiều khốn khó với tư cách là một Nhà Nước mới, trong tiến trình tái cơ cấu hóa, đã tiếp tục cảm thấy bị áp đảo bởi hai Quyền Lực Đức và Nga. Trong tình trạng bị đàn áp này, thế nhưng, lại là một tình trạng được đánh dấu trên hết bởi một niềm hy vọng, đó là con người trẻ Karol Wojtyla khôn lớn. Ngài bị mất mẹ và anh khá sớm, để rồi cuối cùng mất cả người cha nữa, người cha mà ngài đã có được tấm lòng đão hạnh sâu xa và thắm thiết. Chàng thanh niên Karol đặc biệt thiên về văn chương và kịch nghệ. Sau khi đậu cuộc khảo sát cuối cùng ở bậc trung học, chàng đã chọn học những ngành này.

Sau khi bị phân chia trên 100 năm bởi 3 quyền lực chính 100 years ago, on May 18th, Pope John Paul II was born in the small Polish town of Wadowice.

"Để tránh khỏi bị trục xuất đầy ải, vào mùa thu năm 1940, ngài đã đến làm việc ở một mỏ đá của công trường hóa học Solvay" (xem cuốn Tặng Ân và Mầu Nhiệm). "Vào mùa thu năm 1942, ngài đã quyết định gia nhập chủng viện ở Krakow, chủng viện được ĐTGM Krakow là Sapieha bí mật thiết lập ở tư gia của ngài. Khi còn là nhân viên của một xí nghiệp, chàng Karol đã bắt đầu học thần học bằng các thứ sách giáo khoa cũ; và vì thế, vào ngày 1/11/1946, ngài đã được thụ phong linh mục" (cùng nguồn vừa trích dẫn). Dĩ nhiên, chàng Karol chẳng những học thần học bằng sách vở, mà còn qua kinh nghiệm của mình về tình trạng khó khăn mà ngài và Quê Hương của ngài gặp phải. Đó như là một đặc tính của toàn thể đời sống và công việc của ngài. Ngài đã học nơi các sách vở, nhưng các vấn đề được các cuốn sách này đặt ra đã trở thành thực tại ngài sâu xa cảm nghiệm và trải nghiệm. Là một vị Giám Mục trẻ - Giám Mục Phụ Tá từ năm 1958 sau đó làm Tổng Giám Mục Krakow từ năm 1964 - Công Đồng Chung Vaticanô II đã trở nên học đường của toàn thể đời sống và hoạt động của ngài. Những vấn đề quan trọng đã hiện lên, nhất là liên hệ với Đồ Án thứ 13 là Đồ Án sau đó trở thành Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng - Gaudium et Spes, là những vấn đề của ngài. Các câu trả lời đã được khai triển bởi Công Đồng mở đường cho sứ vụ của ngài với tư cách là Giám Mục, và sau đó là Giáo Hoàng.

From the Heart of God: Vatican II & Pope John Paul II | Communio

ĐTGM Karol Wojtyla trong Công Đồng Chung Vaticano II

Khi Hồng Y Wojtyla được chọn làm Vị Thừa Kế Thánh Phêrô ngày 16/10/1978, thì Giáo Hội đang ở trong một tình trảng thê thảm. Những luận cứ của Công Đồng này đã được dẫn giải công khai như là một thứ tranh cãi về chính Đức Tin, những tranh luận dường như đánh mất đi tính chất vô ngộ và vững chắc của Công Đồng. Chẳng hạn có một vị linh mục Bavarian coi xứ đã nhận định về tình trạng này khi nói rằng: 'cuối cùng chúng ta đã đi đến chỗ tin tưởng sai lầm'. Cái cảm giác không có gì còn vững chắc nữa, hết mọi sự đều có vấn đề này lại càng bừng lên trước phương pháo áp dụng việc canh tân phụng vụ. Thế là phụng vụ hầu như là những gì có thể làm sao thì làm. Đức Phaolô VI đã kết thúc Công Đồng một cách phấn khởi và cương quyết, thế nhưng sau đó ngài đã đã phải đối diện với các vấn đề áp đảo hơn bao giờ hết, đến độ việc hiện hữu của chính Giáo Hội cuối cùng cũng có vấn đề nữa. Vào lúc ấy, các nhà xã hội học đã so sánh tình trạng của Giáo Hội với tình trạng của Liên Sô dưới thời cai trị của Gorbachev, trong đó cơ cấu quyền lực của Nhà Nước Liên Sô đã bị sụp đổ theo tiến trình canh tân đổi mới của nó.

Bởi thế mới thật sự là một sứ vụ hầu như bất khả thực hiện đang đợi chờ vị tân Giáo Hoàng. Tuy nhiên, ngay từ giây phút đầu tiên, Đức Gioan Phaolô II đã khơi lên một năng lực mới với Chúa Kitô và với Giáo Hội của Người. Những lời của ngài ở bài giảng đăng quang giáo triều của ngài: "Đừng sợ! Hãy mở rộng các cửa cho Chúa Kitô!" Lời kêu gọi cùng với cung giọng ấy đã làm nên đặc tính cho toàn bộ giáo triều của ngài, và đã biến ngài thành con người phục hồi giải phóng của Giáo Hội. Điều này là do bởi sự kiện là vị tân Giáo Hoàng ấy xuất thân từ một xứ sở tích cực chấp nhận Công Đồng này, một sứ sở hân hoan canh tân mọi sự hơn là có thái độ ngờ vực và bấp bênh trong tất cả mọi sự.

Do not be afraid. Open wide the doors... - Today's Gospel Reading ...

Pope St. John Paul II. Credit: L'Osservatore Romano

Vị Giáo Hoàng này đã đi khắp thế giới, với 104 chuyến tông du, loan báo ở bất cứ nơi đâu ngài đến Phúc Âm như là một sứ điệp của niềm vui, nhờ đó ngài dẫn giải những gì bắt buộc để bênh vực những gì là Thiện Hảo và những gì cần phải tỏ ra với Chúa Kitô.

Trong 14 Thông Điệp của mình, ngài đã trình bày một cách toàn vẹn đức tin của Giáo Hội cùng với giáo huấn của Giáo Hội theo kiểu cách loài người. Khi làm như vậy ngài đã không thể nào tránh được việc làm bừng lên mối mâu thuẫn trong Giáo Hội ở Tây Phương, vốn đã bị vây phủ bởi những gì là ngờ vực và bấp bênh.

Throwback Thursday: Habemus John Paul II – Catholic Telegraph

Hôm nay đây, dường như cần phải xác định tâm điểm thực sự, từ phối cảnh của những gì chúng ta có thể đọc thấy sứ điệp được chất chứa ở trong các bản văn khác nhau. Chúng ta có thể thấy được nó ở vào giờ phút qua đời của ngài. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chết vào những giây phút đầu tiên của Lễ LTXC mới được thiết lập. Xin cho tôi thêm 1 chút nhận định riêng tư là những gì dường như cho thấy chiều kích quan trọng nhất nơi bản chất và công việc của vị Giáo Hoàng này. Ngay từ ban đầu, Đức Gioan Phaolô II đã cảm thấy hết sức thấm thía sứ điệp của nữ tu Faustina Kowalska ở Krakow, vị nhấn mạnh đến LTXC như là một yếu tố thiết yếu của đức tin Kitô giáo. Chị đã hy vọng một thánh lễ như vậy sẽ được thiết lập. Sau khi tham vấn, vị Giáo Hoàng này đã chọn Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh. Tuy nhiên, trước quyết định cuối cùng, ngài đã hỏi Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin cho biết xem quan điểm của thánh bộ này về tính cách thích đáng của ngày ấy. Chúng ta đã đáp lại một cách tiêu cực, vì một ngày cổ kính, truyền thống và ý nghĩa như Chúa Nhật "mặc Áo Trắng - in Albis" kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh không được chồng chất thêm những ý nghĩ mới nào khác. Chắc chắn là câu trả lời của chúng tôi không dễ gì được Đức Thánh Cha chấp nhận. Tuy nhiên, ngài đã rất khiêm tốn chấp nhận như thế, và còn chấp nhận cả lần thứ hai hồi đáp tiêu cực của chúng tôi nữa. Sau hết, ngài đã dung hòa ở chỗ vẫn giữ thể thức lịch sử của Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, nhưng bao gồm cả LTXC theo sứ điệp nguyên vẹn của LTXC. Tôi thường thấy xẩy ra những trường hợp tương tự, làm tôi cảm thấy khâm phục trước tấm lòng khiêm nhượng của vị đại Giáo Hoàng này, vị đã từ bỏ những ý nghĩ ngài yêu thích, vì ngài không được chấp nhận bới các cơ quan chính yếu cần phải bàn hỏi theo qui định được lập ra.

Pope John Paul II greets Cardinal Joseph Ratzinger during his inauguration October 22, 1978. Credit: Vatican Media

Khi Đức Gioan Phaolô II thở hơi cuối cùng trên thế gian này, thì Giờ Kinh Tối Đầu của Lễ LTXC vừa chấm dứt. Điều ấy đã làm sáng tỏ giờ chết của ngài, đó là ánh sáng của LTXC xuất hiện như là một sứ điệp an ủi về cái chết của ngài. Trong cuốn sách cuối cùng của mình là Hồi Niệm và Căn Tính, được xuất bản trước khi ngài qua đời, vị Giáo Hoàng này lại đã tóm lược sứ điệp LTXC. Ngài đã tỏ cho thấy rằng Nữ Tu Faustina đã chết trước khi xẩy ra những gì là kinh hoàng của Thế Chiến Thứ II, nhưng đã cống hiến câu trả lời của Chúa cho tất cả những gì là xung đột bất khả chịu đựng ấy. Chúa Kitô như thể muốn nói qua Nữ Tu Faustina như thế này: "Sự dữ không phải là vinh thắng cuối cùng. Mầu nhiệm Phục Sinh khẳng định rằng sự thiện mới chiến thắng cuối cùng, sự sống sẽ chiến thắng sự chết, và yêu thương sẽ thắng vượt hận thù".

Suốt cuộc đời của mình, vị Giáo Hoàng này đã tìm cách chiếm hữu cho mình trọng tâm khách quan về đức tin Kitô giáo, tín lý về ơn cứu độ, và giúp cho người khác cũng được như vậy nữa. Qua Chúa Kitô phục sinh, LTXC là để giành cho hết mọi cá thể. Mặc dù trọng tâm của cuộc sống Kitô hữu được ban cho chúng ta chỉ ở nơi đức tin, nó còn quan trọng về triết lý nữa, vì nếu LTXC không phải là một sự kiện, thì chúng ta sẽ không tìm thấy đường đi nước bước của mình ở trong một thế giới mà quyền lực của sự thiện chống lại sự dữ là những gì bất khả nhìn nhận. Cuối cùng thì vượt cả lên trên tầm mức lịch sử khách quan này, hết mọi người không trừ ai đều phải nhận biết rằng cuối cùng thì LTXC còn mãnh liệt hơn cả nỗi yếu hèn của chúng ta. Hơn nữa, đến đây, mới có thể thấy được rằng mối liên kết nội tại giữa sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II và những ý hướng nồng cốt của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đó là, Đức Gioan Phaolô II không phải là một nhà luân lý ngặt nghèo, như có một số người có thiên kiến vẽ vời về ngài. Lấy trọng điểm là LTXC, ngài cống hiến cho chúng ta cơ hội để chấp nhận đòi hỏi luân lý đối với con người, cho dù chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn đáp ứng đòi hỏi luân lý ấy. Lại nữa, những nỗ lực về luân lý của chúng ta được thực hiện theo chiều hướng LTXC, một LTXC cho thấy mình là một quyền lực chữa lành cho nỗi yếu hèn của chúng ta.

Khi Đức Giáo Hoàng đang hấp hối chết thì Quảng Trường Thánh Phêrô đầy người, nhất là nhiều giới trẻ, những con người muốn gặp ngài lần cuối cùng. Tôi không thể quên được giây phút Đức TGM Sandri loan báo tin Vị Giáo Hoàng qua đời. Nhất là giây phút cái chuông khổng lồ của Quảng Trường Thánh Phêrô vang lên tin này vẫn là những gì bất khả quên lãng. Vào ngày an táng của ngài, có nhiều biển ngữ ghi những chữ "Phong Thánh ngay - Santo subito!" Đó là một tiếng kêu xuất phát từ cuộc gặp gỡ Đức Gioan Phaolô II từ mọi phía. Không phải ở quảng trường này mà còn ở cả giới trí thức khác nữa trong việc bàn về chuyện ban cho Đức Gioan Phaolô II tước hiệu "Đại".

Chữ "thánh" liên quan đến lãnh vực của Thiên Chúa, còn chữ "đại" thì về chiều kích của nhân loại. Theo tiêu chuẩn của Giáo Hội, thì thánh đức có thể được nhìn nhận bởi 2 tiêu chuẩn đó là các nhân đức anh hùng và phép lạ. Hai tiêu chuẩn này liên hệ mật thiết với nhau. Vì chữ "nhân đức anh hùng" không có nghĩa là một thứ đạt được về Thế Vận Hội, mà là một cái gì đó trở nên hữu hình nơi và qua một người nào đó, không phải của riêng họ mà là công việc của thiên Chúa được nhận biết nơi và qua người ấy. Đó không phải là một thứ đấu chọi về luân lý, mà là thành quả của việc từ bỏ những gì cao cả của bản thân mình. Vấn đề ở đây là một con người biết để cho Thiên Chúa tác động nơi họ, nhờ đó công việc và quyền năng của Thiên Chúa trở nên hữu hình qua họ.

Tiêu chuẩn về phép lạ cũng được áp dụng như thế: cả ở đây nữa, điều đáng kể không phải là một cái gì đó có tính cách cảm xúc đang xẩy ra, mà là việc tỏ hiện hữu hình nơi sự thiện hảo chữa lành của Thiên Chúa, một sự thiện hảo chữa lành vượt trên tất cả mọi khả năng thuần túy của con người. Một thánh nhân là một con người hướng về Thiên Chúa và được Thiên Chúa thấm nhập. Một con người thánh thiện là một con người lìa khỏi bản thân mình để chúng ta có thể nhìn thấy và nhận biết Thiên Chúa. Việc cứu xét yếu tố này về pháp lý bao nhiêu có thể, là mục đích của hai tiến trình phong chân phước và phong hiển thánh. Nơi trường hợp của Đức Gioan Phaolô II, cả hai đều được thực hiện một cách triệt để bằng việc áp dụng các qui định. Bởi vậy mà giờ đây ngài hiện lên trước mắt chúng ta như một Người Cha, vị làm cho LTXC và lòng lành của Thiên Chúa trở nên hữu hình cho chúng ta. 

Vấn đề định nghĩa chữ "đại" cho đúng đắn lại càng khó khăn hơn. Trong giòng lịch sử dài gần 2 ngàn năm của vai trò giáo hoàng, tước hiệu "Đại" vẫn được giữ với hai vị giáo hoàng mà thôi, đó là Đức Lêo I (440-461) và Grogorio I (590-604). Trong trường hợp của cả hai vị này, chữ "đại" đều có nghĩa chính trị, thế nhưng lại chính là vì một điều về mấy nhiệm của chính Thiên Chúa đã trở nên hữu hình qua việc thành đạt về chính trị của các vị. Nhờ đối thoại, Đức Lêo Cả đã có thể thuyết phục được Attila, Vua Mông Cổ, tha cho Roma - thành phố của Đức Vua Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Không cần vũ khí, quân quốc hay quyền lực chính trị, mà chỉ bằng quyền lực của niềm xác tín về đức tin của mình mà ngài đã có thể thuyết phục được một tay bạo chúa đáng sợ tha cho Roma. Trong cuộc tranh đấu giữa tinh thần và quyền lực ấy, tinh thần đã chứng tỏ mình mãnh liệt hơn.

Cuộc thành công của Đức Gregoriô I không ngoạn mục như thế, nhưng ngài đã có thể lập lại việc bảo vệ Roma trước quân Lombard - cả ở đây nữa, cũng bằng việc tinh thần chống lại quyền lực và tinh thần đã vinh thắng.

Nếu chúng ta so sánh ca hai câu chuyện với câu chuyện của Đức Gioan Phaolô II, thì tính cách giống nhau của nó là những gì không sai lầm. Đức Gioan Phaolô II cũng không có quân quốc hay quyền lực chính trị. Trong cuộc bàn luận về việc hình thành tương lai của Âu Châu và Đức quốc vào Tháng 2 năm 1945, chúng ta đã nghe biết về phản ứng của Vị Giáo Hoàng cũng cần phải được lưu ý. Bấy giờ Stalin đặt vấn đề: "Ngài Giáo Hoàng có bao nhiêu quân đoàn vậy?" Đúng thế, ngài chẳng có một quân đoàn nào hết. Tuy nhiên, quyền lực của đức tin đã được biến thành một quyền lực cuối cùng đã giải thể chế độ quyền lực Liên Sô vào năm 1989, và thực hiện được một khởi đầu mới. Đức tin của vị Giáo Hoàng này là những gì không thể chối cãi là một yếu tố thiết yếu trong việc sụp đổ của các quyền lực. Và như thế thì tính chất cao cả đã xuất hiện nơi Đức Lêo I và Đức Grêgoriô I chắc chắn cũng là những gì hiển nhiên ở đây nữa.

Chúng ta hãy để ngỏ vấn đề danh xưng "đại" có được chấp nhận hay chăng. Thật sự là quyền năng và sự thiện hảo của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình nơi Đức Gioan Phaolô II trước tất cả chúng ta. Trong thời điểm Giáo Hội lại chịu khổ bởi việc đàn áp của sự dữ thì, đối với chúng ta, ngài dấu hiệu hy vọng và tin tưởng vậy.

Thánh Gioan Phaolô II quí mến, xin cầu cho chúng con!

Biển Đức XVI

 

https://zenit.org/articles/pope-benedict-writes-letter-on-great-mercy-of-pope-st-john-paul-ii/

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và các chi tiết nhấn mạnh tự ý bằng mầu 

 

ĐTC PHANXICÔ: LỜI TỰA CHO TÁC PHẨM VỀ THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

 News - Pope Francis Should Follow John Paul II's Lead on Climate ...

 Trong Lời Tựa "Tri Ân Tưởng Nhớ Một Chứng Nhân Thánh Đức" của mình cho tác phẩm dầy 128 trang sánh "Gioan Phaolô II 100 Năm: Các Ngôn Từ và Hình Ảnh", ĐTC Phanxicô gọi ngài là "vị đại chứng nhân về LTXC".

Khi Thánh Gioan Phaolô II được bầu chọn làm giáo hoàng thì Đức Phanxicô đang làm bề trên giám tỉnh Dòng Tên ở Á Căn Đình. Ngài cho biết khi tin tức loan báo vị tân giáo hoàng này được bầu chọn thì ngài đang lái xe. Khi tên "Wojtyla" thoạt tiên ngài lại tưởng là vị giáo hoàng người Phi châu.

"Tôi đã nghe thấy những lời nói đầu tiên của ngài và đã có một cảm giác rất tốt đẹp. Cái ấn tượng này được củng cố ngay sau đó, khi tôi được biết rằng ngài đã từng là tuyên úy đại học, giáo sư triết học, một tay leo núi, một tay trượt tuyết, một tay thể thao, một con người cầu nguyện nhiều. Tôi rất ư là thích ngài. Tôi liền cảm thấy rất mộ mến ngài".

Lần đầu tiên hai nhân vật này gặp nhau vào lần ĐTC Gioan Phaolô II tông du Á Căn Đình vào năm 1987, thời điểm ĐTC còn là linh mục và đang "ở trong lúc tăm tối trong đời của tôi", sau thời gian viết luận án tiến sĩ ở Đức và cũng "để xa khỏi bầu khí căng thẳng trong đời sống tu trì ở tỉnh dòng của tôi".

Lần thứ hai xẩy ra vào năm 1994 trong Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới về Đời Sống Thánh Hiến Tu Trì, với tư cách là giám mục phụ tá của TGP Buenos Aires. Cả 2 vị còn gặp nhau lại ở những Thượng Nghị Giám Mục khác và những cuộc viếng thăm ngũ niên (ad limina) khác nữa.

Năm 2001 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban tước Hồng Y cho vị TGM Bergoglio này. "Tôi cảm thấy một ước muốn mãnh liệt, trong khi tôi quì để lãnh nhận mũ hồng y, đó là tôi không chỉ trao đổi dấu hiệu chúc bình an mà còn hôn CẢ tay ngài nữa. Có một số người phê phán tôi về cử chỉ này, thế nhưng đối với tôi thì đó là những gì tự phát".

ĐTC Phanxicô đã phong hiển thánh cho vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II của mình vào lễ LTXC Chúa Nhật 27/4/2014. Đức Phanxicô đã nói: "Chỉ cần nhìn vào đời sống của ngài...xông mùi chiên. Ngài là một vị mục tử đã yêu thương dân chúng và dân chúng cũng đáp lại bằng một tình yêu muôn vàn".

"Nhiều lần trong đời làm linh mục và giáo phẩm của mình, tôi đã nhìn vào ngài, cầu xin cho được ơn trung thành với Phúc Âm, như ngài đã làm chứng cho các Phúc Âm vậy. Mười năm năm chúng ta xa cách ngài từ khi ngài qua đời. Tuy không xa lắm nhưng cũng là một thời gian đủ dài đối với thành phần vị thành niên và giới trẻ không biết ngài, hay đối với những ai chỉ có phất phơ ký ức mơ hồ về đời thơ ấu của ngài. Vì thế, vào dịp 100 năm sinh nhật của ngài, thật là phải khi cử hành việc tưởng niệm vị đại chứng nhân đức tin này, vị được Thiên Chúa ban cho Giáo Hội của Người và nhân loại". (Câu trong Lời Tựa này của ĐTC Phanxicô đã được HĐGM Balan trích lại ở đoạn kết bức thư của hàng giáo phẩm Balan này)

 

ĐTGM MICHALIK OF PRZEMYSL BALAN: MẤY GIAI THOẠI ĐÁNG NHỚ

 Forty years later, Polish bishops revisit election of Pope John ...

HĐGM Balan cử hành ngày 16/10/2018, kỷ niệm đúng 40 năm ĐHY Wojtyla được bầu làm giáo hoàng (16/10/1978), đã ghi lại những điều được ĐTGM Michalik thuật lại về vị giáo hoàng Balan này, ở vào thời điểm mật nghị hồng y bầu chọn ngài.

Vị TGM này, bấy giờ còn là việc trưởng đại học Balan ở Roma, đã đi đón ĐHY Wojtyla ở phi trường ngay trước mật nghị hồng y sửa soạn bầu giáo hoàng kế vị Đức Giopan Phaolô I chợt qua đời sau 33 ngày làm giáo hoàng. Trên đường đến viếng xác Đức Gioan Phaolô I ở Đền Thờ Thánh Phêrô, vị TGM đã hỏi vị giáo hoàng sắp được bầu chọn rằng có bao nhiêu vị hồng y ngài chưa từng biết.

"Vị Hồng Y này đã suy nghĩ về câu hỏi này và trả lời là 7. Đối với tôi thì đó là một câu trả lời gián tiếp, tức là thực sự không có vị Hồng Y nào khác ngoài 7 vị hồng y được ngài quen biết riêng. Điều ấy cho thấy cơ hội của vị hồng y chúng ta đáng kể trong cuộc mật nghị sắp tới bấy giờ".

ĐHY Wojtyla đến đại học viện này thường vào các bữa ăn và các giờ kinh nguyện hằng ngày trước khi mật nghị bắt đầu. "Chúng tôi nói đùa với nhau, nhận định về những tường trình của báo chí, và đôi khi đã nói ra một cách nghiêm chỉnh". Nhưng vị hồng y Balan này bấy giờ lúc nào cũng coi những lời nói đùa cùng với những bàn luận ấy bằng một nụ cười, đôi khi ngài đáp lại một cách tếu táo nữa".

HĐGM Balan nói rằng ĐHY Wojtyla là một nhân vật chính trong Giáo Hội, đã tham dự các thượng nghị giám mục thế giới, đã giảng các cuộc tĩnh tâm cho Giáo Triều Roma, và là một người bạn với Đức Phaolô VI.

Thế nhưng, vị hồng y này là một vị giáo sĩ và là một học giả trọng vọng như vậy, ngài vẫn tỏ ra khiêm tốn. Vào ngày mật nghị hồng y bầu giáo hoàng, "một trong các vị linh mục đã cầu nguyện tự phát rằng Hồng Y Karol Wojtyla được làm giáo hoàng". Vị hồng y này đã đáp lại bằng lời nguyện trích lại những lời của Chúa Kitô trong Phúc Âm Thánh Mathêu: "Satan, hãy xéo cho khuất mắt Ta". Và "sau cùng ngài đã thêm ý chỉ của ngài, xin vị đầy tớ của Chúa, vị được sẽ bầu chọn chấp nhận một cách khiêm nhượng và tuân theo ý Chúa".

 

Xin đón xem tiếp các bài, từ hôm nay Thứ Bảy 16/5/2020 đến Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, Thứ Năm 21/5/2020,

về Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhân dịp Bách Niên Sinh Nhật của ngài.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

LIÊN KẾT WEB SITE

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc
CÁC DÒNG TU 
Dòng Chúa Cứu Thế VN 
Dòng Đồng Công (Hoa Kỳ) 
Dòng Ngôi Lời 
Dòng Chúa Cứu Thế (Hoa Kỳ) 
Dòng Thánh Tâm Huế 
Dòng Lasan 
Tỉnh Dòng Đa Minh VN 
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ 
Dòng Tên Việt Nam 
Dòng Phanxicô VN 
Giáo Hoàng Học Viện Piô X ( Đà Lạt ) 
Đại Chủng Viện Huế 
Đại Chủng Viện Vinh Thanh - GP Vinh 
Đại Chủng Viện Xuân Lộc 
Dòng Thánh Thể 
Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ 
Đan Viện Biển Đức Thiên Tâm (Hoa Kỳ)
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế 
Dòng Mến Thánh Giá LA (gốc Phát Diệm) 
Dòng Đức Mẹ Trinh Vương 
Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời 
Dòng Đaminh Tam Hiệp 
Dòng Don Bosco 
Tu đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa 
Dòng Thừa Sai Đức Tin VN 
Liên hiệp bề trên thượng cấp VN 
Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô 
Dòng Đồng Công (Việt Nam) 
Dòng Chúa Thánh Thần 
Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô 
Dòng Truyền Giáo Thánh Carôlô - Scalabrini 
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế
Lời Chúa Hằng Ngày

Radio Tín Thác
Radio Công Giáo

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây