Đức Benedict XVI ca ngợi Thánh Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do” của Giáo hội

Thứ tư - 20/05/2020 06:05
Đức Benedict XVI ca ngợi Thánh Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do” của Giáo hội
Đức Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do” của Giáo hội trong những năm đầy biến động sau Công đồng Vatican II, Đức Benedict XVI đã nói trong một lá thư đánh dấu lễ kỷ niệm bách chu niên sinh nhật của thánh nhân.
Đức Benedict XVI ca ngợi Thánh Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do” của Giáo hội
 
 
Đức Gioan Phaolô II là “người khôi phục tự do” của Giáo hội trong những năm đầy biến động sau Công đồng Vatican II, Đức Benedict XVI đã nói trong một lá thư đánh dấu lễ kỷ niệm bách chu niên sinh nhật của thánh nhân.
 
Trong thư gửi cho Đức Hồng Y Stanisław Dziwisz, thư ký riêng của Đức Gioan Phaolô II, Đức Giáo hoàng Danh dự nói rằng Đức Giáo hoàng Ba Lan đã phải “đối mặt với một nhiệm vụ hầu như bất khả thi” khi Đức Gioan Phaolô được bầu vào ngôi vị giáo hoàng năm 1978.
 
“Tuy nhiên, ngay từ giây phút đầu tiên, Đức Gioan phaolô II đã đánh thức sự nhiệt tình mới cho Đức Kitô và Giáo hội của Người. Những lời của ngài từ bài thuyết giảng tại lễ đăng quang ngôi vị giáo hoàng của mình: ‘Đừng sợ! Hãy mở, hãy mở rộng cánh cửa cho Đức Kitô!” Đây là lời kêu gọi và giai điệu này sẽ đặc trưng cho toàn bộ triều đại giáo hoàng của ngài và khiến ngài trở thành người khôi phục tự do của Giáo hội” Đức Benedict viết.
 
Trong một lá thư 2.000 từ pha trộn những hồi tưởng cá nhân với suy tư thần học, Đức Giáo hoàng Danh dự theo bước cuộc đời của Đức Gioan Phaolô II từ khi sinh ra ở Ba Lan mới độc lập vào ngày 18 tháng 5 năm 1920, đến khi ngài qua đời vào ngày lễ Lòng Chúa xót Chúa vào 2, tháng 4, năm 2005.
 
Đức Benedict cũng bảo vệ sự toàn vẹn về án kiên phong thánh được theo dõi nhanh chóng của Đức Gioan Phao lô II và cho rằng lịch sử sẽ quyết định liệu ngài có xứng đáng với danh hiệu “vĩ đại” hay không, cùng với các giáo hoàng Leo I và Gregory I.
 
Bức thư, ngày 4 tháng 5, được phát hành vào ngày 15 tháng 5 lúc 11 giờ sáng, giờ địa phương, bởi phòng báo chí của giám mục Ba Lan, nơi cung cấp bản dịch tiếng Anh từ bản gốc tiếng Đức.
 
Đức Benedict, người kế vị Đức Gioan Phaolô II làm giáo hoàng năm 2005, nói rằng người tiền nhiệm của ngài được sinh ra vào thời điểm cả hai “sự áp bức” và một niềm “hy vọng lớn lao.” Ba Lan đã giành lại độc lập vào năm 1918, nhưng vẫn bị Đức và Nga đe dọa.
 
Ngài nhắc lại rằng sau khi Đức quốc xã chiếm Ba Lan năm 1939, chàng trai trẻ Karol Wojtyła đã làm việc trong mỏ đá của một nhà máy hóa chất giữa lúc bí mật chuẩn bị cho chức tư tế.
 
“Tất nhiên, Karol không chỉ nghiên cứu thần học trong sách vở mà còn qua trải nghiệm của mình về tình huống khó khăn mà ngài và đất nước của ngài tìm thấy,” ngài viết.
 
“Đây là một đặc điểm về toàn bộ cuộc đời và công việc của ngài. Ngài nghiên cứu sách nhưng những câu hỏi mà họ đặt ra đã trở thành hiện thực mà ngài trải nghiệm sâu sắc và đã sống.”
 
Đức Benedict nói rằng giáo hoàng tương lai cũng được định hình bởi Công đồng Vatican II, những phiên họp của công đồng mà ngài tham dự đầu tiên với tư cách là giám mục phụ tá và sau đó là Tổng giám mục Kraków.
 
“Công đồng Vatican II trở thành trường học của toàn bộ cuộc đời và công việc của ngài,” Đức Benedict đã quan sát, nêu bật sự đóng góp của Đức Gioan Phaolô cho Hiến chế Mục vụ của Công đồng năm 1969 về Giáo hội trong Thế giới hiện đại, Gaudium et spes.
 
“Câu trả lời được phát triển bởi Công đồng sẽ mở đường cho sứ vụ của ngài với tư cách là giám mục và sau đó, với tư cách là giáo hoàng,” Đức Benedict đã viết.
 
Ngài lập luận rằng khi Đức Gioan Phaolô II được bầu vào ngôi vị giáo hoàng, Giáo hội đã có một tình huống đầy kịch tính.
 
Ngài đã viết: “Những cuộc bàn cãi ​​của Công đồng đã được trình bày trước công chúng như là một tranh chấp đối với nội tại" Đức Tin, điều mà dường như làm mất đi sự chắc chắn và không thể lay chuyển của Công đồng. Chẳng hạn, một linh mục giáo xứ Bavaria đã bình luận về tình huống này bằng cách nói: ‘Cuối cùng, chúng ta rơi vào đức tin sai lầm.”
 
“Cảm giác này không có gì còn là chắc chắn nữa, rằng mọi thứ đều bị nghi ngờ, thậm chí còn được đánh giá cao hơn bằng phương pháp thực hiện cải cách phụng vụ. Cuối cùng, dường như phụng vụ có thể được tạo ra từ bản chất.”
 
Đức Benedict tiếp tục: “Đức Phaolô VI đã dẫn đưa Công đồng kết thúc bằng năng lực và quyết tâm, nhưng sau khi kết thúc, ngài phải đối mặt với những vấn đề cấp bách hơn mà cuối cùng đặt câu hỏi về sự tồn tại của Giáo hội.”
 
“Vào thời điểm đó, các nhà xã hội học đã so sánh tình hình Giáo hội với tình hình của Liên Xô dưới sự cai trị của Gorbachev, trong đó cấu trúc vững chắc của nhà nước Xô Viết đã sụp đổ dưới quá trình cải cách.”
 
Ngài nói rằng Đức Gioan Phao II đã khôi phục được trạng thái cân bằng Giáo hội, được giúp đỡ bởi thực tế là Giáo hội Ba Lan đã trải qua một cuộc “đổi mới tưng bừng” sau khi Vatican II đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản.
 
Thông qua những chuyến tông du rộng rãi và 14 tông huấn của ngài, Đức Giáo hoàng Ba Lan đã chia sẻ một “thông điệp về niềm vui,” và “đã trình bày một cách toàn diện đức tin của Giáo hội và giáo huấn của nó theo cách của con người” Đức Benedict nói.
 
Ngài xác định “trung tâm đích thực” về cuộc đời của thánh nhân là sự sùng kính Lòng Thương xót Chúa được thôi thúc bởi nữ tu người Ba Lan Faustina Kowalska.
 
Đức Benedict, người phục vụ với tư cách là Tổng trưởng Thánh bộ Giáo lý Đức tin của Vatican dưới thời Đức Gioan Phaolô II, ngài nhắc lại rằng Bộ của ngài đã hai lần khuyên Đức Giáo hoàng không nên thiết lập Chúa Nhật thứ hai của Lễ Phục Sinh là Chúa Nhật lòng Chúa thương xót.
 
“Không dễ gì Đức Thánh Cha chấp nhận câu trả lời của chúng tôi,” ngài nhắc lại. “Tuy nhiên, ngài đã làm như vậy với sự khiêm tốn và chấp nhận phản ứng tiêu cực của chúng tôi lần thứ hai. Cuối cùng, ngài đã trình bày rõ ràng và chính xác một đề xuất rời Chúa Nhật thứ hai của Lễ Phục Sinh dưới hình thức lịch sử của nó nhưng bao gồm Lòng thương xót của Thiên Chúa trong thông điệp ban đầu của nó.”
 
“Thường có những trường hợp tương tự mà tôi bị ấn tượng bởi sự khiêm nhường của vị giáo hoàng vĩ đại này, người mà đã từ bỏ những ý tưởng mà mình ấp ủ vì ngài không thể tìm thấy sự chấp thuận của các cơ quan chính thức, mà phải được yêu cầu theo những quy tắc đã được thiết lập.”
 
Đức Benedict đề nghị những người mà đã trình bày Đức Gioan Phaolô II là một nhà đạo đức nghiêm khắc đã không chú ý tới thông điệp của ngài rằng, “Cuối cùng, lòng thương xót của Chúa mãnh liệt hơn sự yếu đuối của chúng ta.”
 
“Ngoài ra, vào thời điểm này, sự thống nhất bên trong thông điệp của Đức Gioan Phaolô II và ý căn bản của Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng có thể được nhận thấy rõ ràng: Đức Gioan Phaolô II không phải là người nghiêm khắc về đạo đức như một số người đã miêu tả phần nào về ngài,” Đức Benedict đã viết.
 
“Với xu hướng trung tâm của lòng thương thiêng liêng, ngài cho chúng ta cơ hội chấp nhận những yêu cầu đạo đức cho con người, ngay cả khi chúng ta không bao giờ có thể đáp ứng đầy đủ chúng. Bên cạnh đó, những nỗ lực đạo đức của chúng ta được thực hiện dưới ánh sáng của lòng thương xót thiêng liêng, điều đó chứng tỏ là một sức mạnh chữa lành cho sự yếu đuối của chúng ta.”
 
Đức Benedict XVI kể lại rằng vào ngày tang lễ của Đức Gioan Phaolô II, do ngài chủ sự, đã có tiếng khóc “Santo subito!” Bên cạnh những lời kêu gọi phong thánh này, còn có một cuộc thảo luận “trong những giới trí thức khác nhau” về việc liệu Đức Gioan Phaolô có nên được phong tặng danh hiệu “Vĩ Nhân” hay không.
 
Đức Benedict đã khước từ thời gian chờ đợi 5 năm theo thông lệ đối với các thánh nhân, vì cho phép mở án kiện chỉ một tháng sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời. Đức Giáo hoàng Danh dự quả quyết rằng quy trình phong thánh được “thực hiện theo đúng quy tắc hiện hành.”
 
Ngài nói rằng, trong khi rõ ràng Đức Gioan Phaolô II xứng đáng được phong thánh, thật khó để định nghĩa thuật ngữ “vĩ đại.” Ngài lưu ý rằng chỉ có hai giáo hoàng trong gần 2.000 năm lịch sự của triều đại giáo hoàng được biết đến với tên gọi là “vĩ nhân” - Leo I, ngài đã thuyết phục Attila rợ Hung tha cho Roma và Gregory I, ngài đã bảo vệ thành phố khỏi những người Oliver.
 
“Nếu chúng ta so sánh cả hai câu chuyện với câu chuyện của Đức Gioan Phaolô II, thì sự tương đồng là không thể nhầm lẫn,” ngài viết. Gioan Phaolô II cũng không có quyền lực quân sự hay chính trị. Trong cuộc thảo luận về hình dạng tương lai của Âu châu và Đức vào tháng 2 năm 1945, người ta nói rằng phản ứng của Đức Giáo hoàng cũng cần được tính đến. Stalin sau đó hỏi: ‘Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn?’ Vâng, ngài không có sư đoàn nào. Tuy nhiên, sức mạnh của đức tin hóa ra là lực lượng cuối cùng đã loại bỏ hệ thống quyền lực của Liên Xô vào năm 1989 và tạo ra một khởi đầu mới có thể.”
 
“Không thể chối cãi, đức tin của Giáo hoàng là một yếu tố thiết yếu trong sự sụp đổ của các thế lực. Và vì vậy, sự vĩ đại xuất hiện ở Leo I và Gregory I chắc chắn cũng được nhìn thấy ở đây.”
 
Nhưng Đức Benedict kết luận rằng vấn đề liệu Đức Gioan Phaolô II có nên được gọi là “Vĩ Nhân” hay nên để trống.
 
“Quả thật, sức mạnh và lòng nhân từ của Thiên Chúa đã trở nên hữu hình đối với tất cả chúng ta trong Đức Gioan Phaolô II. Trong thời gian khi mà Giáo hội phải chịu sự áp bức của cái ác, ngài dành cho chúng ta dấu chỉ của hy vọng và sự tin tưởng,” Đức Benedict nói.
 
Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

LIÊN KẾT WEB SITE

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc
CÁC DÒNG TU 
Dòng Chúa Cứu Thế VN 
Dòng Đồng Công (Hoa Kỳ) 
Dòng Ngôi Lời 
Dòng Chúa Cứu Thế (Hoa Kỳ) 
Dòng Thánh Tâm Huế 
Dòng Lasan 
Tỉnh Dòng Đa Minh VN 
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ 
Dòng Tên Việt Nam 
Dòng Phanxicô VN 
Giáo Hoàng Học Viện Piô X ( Đà Lạt ) 
Đại Chủng Viện Huế 
Đại Chủng Viện Vinh Thanh - GP Vinh 
Đại Chủng Viện Xuân Lộc 
Dòng Thánh Thể 
Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ 
Đan Viện Biển Đức Thiên Tâm (Hoa Kỳ)
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế 
Dòng Mến Thánh Giá LA (gốc Phát Diệm) 
Dòng Đức Mẹ Trinh Vương 
Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời 
Dòng Đaminh Tam Hiệp 
Dòng Don Bosco 
Tu đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa 
Dòng Thừa Sai Đức Tin VN 
Liên hiệp bề trên thượng cấp VN 
Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô 
Dòng Đồng Công (Việt Nam) 
Dòng Chúa Thánh Thần 
Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô 
Dòng Truyền Giáo Thánh Carôlô - Scalabrini 
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế
Lời Chúa Hằng Ngày

Radio Tín Thác
Radio Công Giáo

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây