Giáo Lý Mùa Chay –Bài 3: NGƯỜI SAMARI TỐT LÀNH

Chủ nhật - 06/03/2016 09:56
Dụ ngôn người Samari tốt lành là một trong những dụ ngôn gây kích thích nhất. Người bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem với các môn đệ. Người gặp người thông luật, ông muốn trao đổi với Chúa Giêsu chủ đề: phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Chính xác hơn người thông luật muốn thử Chúa Giêsu, bởi vì một trong những câu hỏi gây tranh luận nhất trong thời đó:



Giáo Lý Mùa Chay –Năm Thánh Lòng Thương Xót 2016 – Giáo xứ Phú Bình 
Bài 3: NGƯỜI SAMARI TỐT LÀNH

Dụ ngôn người Samari tốt lành là một trong những dụ ngôn gây kích thích nhất. Người bắt đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem với các môn đệ. Người gặp người thông luật, ông muốn trao đổi với Chúa Giêsu chủ đề: phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp. Chính xác hơn người thông luật muốn thử Chúa Giêsu, bởi vì một trong những câu hỏi gây tranh luận nhất trong thời đó: Điều răn nào quan trọng nhất mà sự sống đời đời tùy thuộc vào? Trong tình huống này đã khơi lên dụ ngôn người Samari tốt lành. Dụ ngôn này làm sáng tỏ tương quan giữa luật và điều chính yếu là sự sống đời đời.
- Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca (Lc 10,25-37)
Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: ‘Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rằng: Nhưng ai là người thân cận của tôi? Đức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và bang bó lại, rồi đặt người ấy trên lung lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.” Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy.”
1. Điều răn quan trọng nhất:
Tại Palestine thời Chúa Giêsu, có sự tranh luận giữa các nhóm trong Do Thái giáo về hai câu hỏi chính liên quan đến luật Mô-sê: Điều răn nào quan trọng nhất? và ai là người thân cận để tôi phải yêu thương người đó? Với 613 khoản luật gồm 365 điều khoản cấm làm và 248 điều khoản buộc phải làm, và còn nhiều lời giải thích cắt nghĩa theo các truyền thống của cha ông họ nữa, làm sao có thể biết đâu là điều quan trọng nhất. Đồng thời những căng thẳng chính trị tại Palestine giữa các nhóm khác nhau bao gồm những người Samaria, câu hỏi đặt ra vậy ai là người thân cận của tôi? Phải chăng chỉ gồm những người trong nhóm tôn giáo của chúng tôi, hoặc ngay cả những người chia sẻ cùng một niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bao gồm người Samari? Bởi vì câu hỏi thứ hai người thông luật đặt ra nhằm giăng bẫy Chúa Giêsu, nó hàm ý câu hỏi này đang gây tranh cãi quyết liệt giữa các nhóm trong Do Thái giáo tại Palestine.
Phần đầu cuộc đối thoại đề cập đến câu hỏi thứ nhất. Mặc dù rất nhiều khoản luật, tuy nhiên người thông luật và Chúa Giêsu đều nhất trí yêu mến Thiên Chúa và người thân cận là những điều kiện cần thiết để được thừa hưởng sự sống đời đời. Trong câu trả lời người thông luật đề cập đến những trang trong sách Đệ Nhị Luật 6,5 và sách Lê vi 19,18 để nối kết tình yêu đối với Chúa và tình yêu đối với người thân cận.
Ở đây, người thông luật ngấm ngầm đặt câu hỏi để thử Chúa Giêsu: Ai là người thân cận mà tôi phải yêu thương? Một người anh em, một người bạn, một người quen biết, một người xa lạ, hoặc ngay cả kẻ thù của tôi? Người ta có thể xem một người không yêu mến Thiên Chúa lại là người thân cận của họ được không? Trong giáo huấn của Chúa Giêsu qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu liên kết hai điều răn quan trọng bằng việc nói về tình yêu người thân cận và hàm ý trong đó là tình yêu đối với Thiên Chúa mặc dù không nói trực tiếp.
2. Thầy tư tế, thầy Lê vi và người Samari:
Như cách Chúa Giêsu kể dụ ngôn, những người trong dụ ngôn là nặc danh, nhưng Chúa Giêsu đặt chú ý vào căn tính tôn giáo và sắc tộc. Chúa Giêsu bắt đầu câu chuyện ở một vị trí xa cách với nơi Người đang hiện diện, vì Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem chưa đi ngang qua Giêrikhô, và Ngài kể về một người đi hướng ngược lại là từ Giêrusalem xuống Giêrikhô. 
Trong dụ ngôn Chúa Giêsu đề cập đến một người bị băng cướp đánh gần chết và bỏ lại nằm bên đường. tình trạng của một người nửa sống nửa chết là chủ đề nhạy cảm trong dụ ngôn. Vì câu hỏi đặt ra: Một ai đó chạm vào người nửa sống nửa chết có thể bị ô uế hay không?
Với chủ ý cả ba người được chọn trong dụ ngôn đều liên hệ đến việc thờ phượng Thiên Chúa duy nhất trong những cách khác nhau: thầy tư tế đi xuống từ Gi rusalem sau khi thi hành việc phục vụ tại đền thờ; thầy Lê vi thuộc giai cấp tư tế nhưng không thực hiện việc phục vụ đền thờ lúc đó; và một người Samari. Trong bộ ba thầy tư tế, thầy Lê vi, và người Samari thì người Samari là người xa lạ trong bộ ba, bởi vì theo cách suy nghĩ của người Do Thái thì người Samari là người dơ bẩn và bị xem là dân ngoại (lý do chính có sự va chạm giữa những người Do Thái và người Samari, chúng ta có thể tham khảo cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari) (Ga 4,20).
Theo luật Mô-sê bất cứ ai chạm vào xác chết sẽ bị ô uế trong một tuần. Và nếu ai bị ô uế mà vẫn thi hành việc phụng tự sẽ bị loại khỏi Israel (Dân số 19,11-13). Vì thế trong tình huống dụ ngôn nó liên quan đến những giới hạn quy định về ô uế. Thầy tư tế và Lê vi bị đặt trước một lựa chọn phải tuân giữa luật thanh sạch hoặc giúp đỡ người nửa sống nửa chết. Nhưng cần lưu ý trong tình huống này bổn phận với người thân cận không loại trừ trách nhiệm của thầy tư tế và Lê vi. Chính trong lựa chọn nói trên làm nổi bật thái độ của họ khi nhìn thấy và tránh qua bên kia để đi.
Tiếp theo, người Samari thấy, ông thương cảm nạn nhân và dừng lại chăm sóc. Như thế dụ ngôn đã tạo nên sự tương phản: Nếu thầy tư tế và Lê vi tránh làm những gì họ thấy thì người Samari đã hành động, mặc dù nạn nhân là người thù nghịch. Nội dung của dụ ngôn bắt đầu khơi lên nhận định: tình yêu đối với Thiên Chúa không tự động bảo đảm tình yêu đối với người thân cận. hơn thế nữa, điều được chờ đợi nơi những người biết nhiều về tình yêu Thiên Chúa (thầy tư tế và Lê vi) lại được thực hiện bởi một người khác biệt sắc tộc (Samari). Người nửa sống nửa chết được giải cứu bởi một người dân ngoại!
3. Từ chạnh thương đến chăm sóc:
Dụ ngôn đạt đến đỉnh cao khi ghi nhận: ‘Người Samari thấy và chạnh lòng thương” nạn nhân. Vì vậy, kết thúc dụ ngôn, người thông luật nhìn nhận “người thân cận là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (một chút ghi nhận: động từ diễn tả “chạnh lòng thương nơi người Samari, splanchnizomai, đến từ danh từ splanchna, tiếng Hy Lạp có nghĩa là cung lòng, dạ người mẹ, bao gồm con tim). Theo cách nghĩ chung của những người thời Chúa Giêsu, những biểu lộ tình cảm của một con người như tình yêu, thương cảm, thương xót phát xuất từ cung lòng sâu thẳm của một người. Người Samari không dừng lại chỉ để thấy nạn nhân nhưng đã chạm đến cung lòng của chính ông. Khởi đi từ sự chạnh thương trở thành động lực để ông sẵn sàng làm tất cả để cứu nạn nhân.
Sự thương cảm đích thật không phải là một cảm xúc nhưng là một hành động nhằm chăm sóc người khác. Chúa Giêsu kể hàng loạt những hành động của người Samari rất chi tiết: Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Sau khi ở bên người đó suốt đêm, người Samari trao cho chủ quán hai quan tiền (tương đương hai ngày lương). Khi ông ta tiếp tục cuộc hành trình, cam kết với chủ quán nếu tốn kém thêm khi trở về ông sẽ thanh toán.
Từ đầu đến cuối câu chuyện, không có chi tiết nào về nạn nhân. Ông ta không được mô tả về nguồn gốc cũng như tình trạng xã hội. Tất cả chú ý tập trung vào người chăm sóc nạn nhân và trả những phí tổn. Sự thương cảm đích thật thúc đẩy một người cố gắng làm điều tốt cho người khác và những hành động tiếp theo, mặc dù mất thời gian và tốn tiền, tất cả vì người đang cần giúp đỡ. Thánh A rôsiô giám mục đã nhận xét rất hay: “Lòng thương xót làm cho kẻ xa lạ trở thành người thân cận.”
4. Thay đổi cách suy nghĩ:
Chúa Giêsu trả lời cho câu hỏi của người thông luật bằng dụ ngôn người Samari tốt lành. Dụ ngôn đã soi sáng cho cuộc sống bằng việc lật nhào một cách suy nghĩ chung của nhiều người về chủ đề gây tranh luận thời đó. Chúng ta biết rằng người ta rất quan tâm đến căn tính của người thân cận (gốc gác của một người) để làm thước đo cho những chọn lựa và hành động. mỗi nhóm đều có những tiêu chuẩn riêng để xác định ai là người thân cận. Chúa Giêsu đưa ra câu trả lời đi vào nền tảng của vấn đề khi kể dụ ngôn. Ngài muốn lật đổ những tranh luận không nên có.
Nếu khởi đầu câu chuyện, người thân cận là người nửa sống nửa chết, cuối dụ ngôn người thân cận là người Samari. Nạn nhân là câu trả lời của Chúa Giêsu cho câu hỏi của người thông luật: “Ai là người thân cận của tôi?”, nhưng người Samari là câu trả lời cho câu hỏi của Chúa Giêsu: “Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật vẫn chưa nhận ra ông là một phần của câu chuyện, vì thế ông trả lời dứt khoát: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Như thế ông bị buộc phải đưa ra câu trả lời mà ông không mong muốn; người thân cận là người Samari.
Chúa Giêsu đã khai sáng cho người thông luật qua dụ ngôn nối kết với cuộc sống. Ngài mong muốn người thông luật bước vào cái lý lẽ (logic) của dụ ngôn – cũng như người đọc đi vào câu chuyện – và hành động như người Samari là làm cho chính ông trở thành người thân cận với người khác.. Đặt nền trên câu hỏi thứ nhất trong cuộc đối thoại về điều răn quan trọng nhất, câu hỏi ai là người thân cận dẫn đến tranh luận không có giải đáp, cho đến khi người ta phải thay đổi điểm nhìn. Dụ ngôn thay đổi cách thế tiếp cận từ cách đặt câu hỏi: ai là người thân cận? đến cách tiếp cận chính họ. Người thân cận không còn là những xác định dựa trên tôn giáo, sắc tộc, văn hóa, nguồn gốc xã hội, nhưng dựa trên sự thương cảm đối với người khác.
5. Chúa Giêsu, người Samari nhân hậu?
Ngay từ thời các giáo phụ (Giáo hội sau thời các tông đồ), dụ ngôn này được đọc như mô tả về Chúa Giêsu. Clement thành Alexandria giải thích: “Ai hơn Chúa Giêsu đã thương xót chúng ta, những người đang bị cai trị bởi bóng tối tội lỗi, Bị đè bẹp bởi sự chết vì mang trên mình nhiều thương tích, sợ hãi, tham vọng, ảo tưởng, đam mê xác thịt. Những vết thương này chỉ có thày thuốc là Chúa Giêsu, vị lương y chữa lành những thương tích tận gốc rễ.”
Những chi tiết trong dụ ngôn làm chúng ta nghĩ đến Chúa Giêsu đã dừng lại đối thoại với người phụ nữ Samari trong Tin Mừng Gioan (Ga 4,7-40). Một sự thương cảm sâu xa có khả năng làm tất cả để có thể chăm sóc người bệnh là cách sống của Chúa Giêsu. Ngay cả những chi tiết như người Samari rời quán trọ và sẽ trở lại sau, có thể làm chúng ta nghĩ đến cách song song việc Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình với các môn đệ sau phục sinh và sẽ trở lại lần thứ hai trong vinh quang.
Đồng thời, những gì nói về người Samari áp dụng cho Chúa Giêsu và cho cộng đoàn Kitô hữu, nơi mỗi người và cộng đoàn trở thành người thân cận của ai đó để biết chú ý, quan tâm chăm sóc những người chúng ta nhận ra như “ai đó” trên cuộc hành trình cuộc đời. Do đó, dụ ngôn phác họa đời sống hằng ngày của mỗi người và biến đổi nó từ bên trong: điều đã rõ đối với người thông luật: tình yêu Thiên Chúa không thể tách rời tình yêu đối với người thân cận.

6. Sự hoàn hảo của lề luật:
Những cộng đoàn Kitô hữu ngay từ những ngày đầu đã đi theo con đường Chúa Giêsu và thấu hiểu tầm quan trọng của dụ ngôn người Samari tốt lành. Trong hai dịp thánh Phaolô đề cập đến tranh luận về giới răn quan trọng nhất trong lề luật. Người nói với cộng doàn tại Galát đang đe dọa cắn xé lẫn nhau, “Vì tất cả lề luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, an hem tiêu diệt lẫn nhau đấy” (Gl 5,14-15). Tự do nơi người tín hữu là sự tự do tuyệt đối bởi vì đó là quà tặng từ Đức Kitô: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1). Do đó sự tự do không dẫn đến tình trạng hỗn loạn nhưng được thể hiện trong việc phục vụ và yêu thương người lân cận. Khi Phaolô đề cập đến các Kitô hữu tại Rôma, người trở về với giới răn yêu thương và xem đó là món nợ duy nhất mà tín hữu có: “anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,9), bởi vì có một số người trong cộng đoàn thiếu vắng tình yêu. Cả hai dịp này Phaolô không đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa nhưng đặt trọng tâm chú ý vào tình yêu đối với người thân cận. Tại sao có vẻ mất cân bằng hoặc im lặng trong việc đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa?
Lý do được đưa ra trong thư thứ nhất của Gioan: “Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Đe dọa trầm trọng nhất mà thánh Phaolô và thánh Gioan tiên đoán là nhân danh tình yêu đối với Thiên Chúa nhưng lại xúc phạm hoặc quên xót người an hem sống gần bên. Tình yêu đối với Thiên Chúa không tự động tạo nên tình yêu đối với người thân cận, nhưng tình yêu đối với người thân cận là tấm gương phản chiếu tình yêu đối với Thiên Chúa.
Nhưng đừng để chúng ta bị đánh lừa. thật cần thiết phải quay trở về với nguồn cội tình yêu, đó là tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thánh Gioan đã nói: ‘Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19). Tình yêu đích thật đối với người thân cận không đến từ những chương trình xã hội, hoặc chủ nghĩa vị tha, nhưng đến từ tình yêu mà Thiên Chúa và Chúa Giêsu đã có đối với chúng ta; đến lượt chúng ta được thôi thúc để sống tình yêu đó vì: “Đứ Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,15).
Dụ ngôn người Samari tốt lành đem lại ý nghĩa cho đời sống của con người. Chúng ta trở thành người thân cận đối với người khác cách tuyệt đối bởi vì Thiên Chúa đến sống với chúng ta và tiếp tục, qua Chúa Giêsu, vẫn đang chạnh lòng thương xót những thương tích của chúng ta. Đó là quỹ đạo đưa người thông luật bước vào và đòi hỏi ông phải thay đổi tâm trí. Không còn là câu hỏi chọn lựa giữa tình yêu đối với Chúa và tình yêu đối với người láng giềng, nhưng cần nhận ra rằng những ai đang yêu thương anh chị em mình mà họ thấy, họ cũng yêu mến Thiên Chúa, đấng họ không thấy. Tuy nhiên, cần nhắc lại lần nữa: tình yêu Thiên Chúa không tự động đưa đến tình yêu đối với người thân cận, nhưng tình yêu đối với Thiên Chúa luôn hoạt động trong tình yêu đối với người khác.
Lm. Giuse Vương Sĩ Tuấn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
LIÊN KẾT WEB SITE

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc
CÁC DÒNG TU 
Dòng Chúa Cứu Thế VN 
Dòng Đồng Công (Hoa Kỳ) 
Dòng Ngôi Lời 
Dòng Chúa Cứu Thế (Hoa Kỳ) 
Dòng Thánh Tâm Huế 
Dòng Lasan 
Tỉnh Dòng Đa Minh VN 
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ 
Dòng Tên Việt Nam 
Dòng Phanxicô VN 
Giáo Hoàng Học Viện Piô X ( Đà Lạt ) 
Đại Chủng Viện Huế 
Đại Chủng Viện Vinh Thanh - GP Vinh 
Đại Chủng Viện Xuân Lộc 
Dòng Thánh Thể 
Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ 
Đan Viện Biển Đức Thiên Tâm (Hoa Kỳ)
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế 
Dòng Mến Thánh Giá LA (gốc Phát Diệm) 
Dòng Đức Mẹ Trinh Vương 
Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời 
Dòng Đaminh Tam Hiệp 
Dòng Don Bosco 
Tu đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa 
Dòng Thừa Sai Đức Tin VN 
Liên hiệp bề trên thượng cấp VN 
Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô 
Dòng Đồng Công (Việt Nam) 
Dòng Chúa Thánh Thần 
Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô 
Dòng Truyền Giáo Thánh Carôlô - Scalabrini 
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế
LỜI HẰNG SỐNG
Nghe Suy Niệm Hằng Ngày

Bài Giảng Lòng Thương Xót
 

 

HHTM TGP Sàigòn Tổ chức Hội Thi Thánh Ca Chủ đề “ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU NHỜ MẸ MARIA” tại thánh đường GX Sao Mai Hạt Chí Hòa Lúc 19g00 Ngày 28-05-2017. Mừng Kính 100 năm Đức Mẹ Hiện ra tại FATIMA.


Nhạc Thánh Ca

 

  Radio Vatican
 
Radio Veritas
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây