MỤC VỤ GIÁO LUẬT: BÍ TÍCH HÔN NHÂN (3)

Thứ ba - 03/10/2017 16:04
002
002
Lm. J.B. LÊ NGỌC DŨNG
3. THỦ TỤC KẾT HÔN 

 

3.1. Giáo xứ, nơi kết hôn

 Hôn nhân phải được cử hành tại giáo xứ mà một trong hai người kết hôn có cư sở hoặc bán cư sở hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người không có cư sở, phải được cử hành tại giáo xứ mà họ đang cư ngụ; hôn nhân có thể cử hành tại nơi khác, khi có phép của Đấng Bản Quyền riêng hay của cha sở riêng (đ. 1115). 

a- Tùy chọn giáo xứ

 Bộ Giáo luật hiện hành không quy định kết hôn ở giáo xứ bên nữ hay ưu tiên bên nữ, cũng không ấn định ưu tiên cho cha sở của bên nào chứng hôn.
Kết hôn là một sự kiện trong đại của cuộc sống con người nên vị mục tử hãy để tùy theo sự chọn lựa và quyết định của đôi bạn về nơi cử hành hôn phối, trừ khi vì những lý do đặc biệt nào khác, như có sự quá khó khăn trong việc điều tra để chứng minh tình trạng thong dong.
Đôi bạn sẽ đăng ký kết hôn tại giáo xứ mà họ được chấp nhận cử hành hôn phối, bất kể là giáo xứ của bên nam hay bên nữ hoặc ở một giáo xứ khác. 

b- Cư sở, bán cư sở

 Việc cử hành hôn nhân liên quan đến cư sở và bán cư sở. Vì vậy, cần phải xác định theo Giáo Luật, với những điều kiện nào thì một tín hữu có cư sở (thường trú) hay bán cư sở (tạm trú). Phải chăng muốn có cư sở hay bán cư sở, giáo dân phải trình diện và đăng ký với cha sở; hoặc muốn nhập vào giáo xứ phải có giấy xuất khỏi giáo xứ cũ, như kiểu nhập tịch xuất tịch?
Thủ đắc cư sở
Điều 102 quy định về cư sở hay bán cư sở:
§1. Cư sở được thủ đắc do việc cư ngụ trong địa hạt của một giáo xứ hay ít ra của một Giáo Phận, với ý định sẽ ở đó vĩnh viễn, nếu không có gì thay đổi, hoặc việc cư ngụ đã được kéo dài năm năm trọn. 
§2. Bán cư sở được thủ đắc do việc cư ngụ trong địa hạt của một giáo xứ hay ít ra của một Giáo Phận, với ý định sẽ ở đó ít là ba tháng nếu không có gì thay đổi, hoặc việc cư ngụ đã thực sự được kéo dài suốt ba tháng. 
Điều 102 quy định người tín hữu thủ đắc được cư sở hay bán cư sở là do những điều kiện theo luật định chứ không do sự đăng ký nhập giáo xứ. Cần phân biệt, việc đăng ký nhập giáo xứ thuộc về phần tổ chức để chu toàn nhiệm vụ điều hành giáo xứ. Nó là cần thiết cho việc mục vụ, nhưng tự nó không quyết định cho việc thủ đắc cư sở hay bán cư sở.
Theo luật, nếu giáo dân chứng minh được thời gian cư ngụ đối với cư sở là 5 năm hay đối với bán cư sở là 3 tháng thì họ thủ đắc được cư sở hay bán cư sở. Bổn phận của cha sở là phải lo liệu cho họ, như một mục tử có nhiệm vụ biết và chăm sóc con chiên. Ngài không thể lấy lý do là không biết đến con chiên đó. Ngài có bổn phận phải tổ chức đội ngũ các chức việc để giúp ngài nhận biết các con chiên và chăm sóc họ.
Ngoài ra, cũng nên lưu ý, sự thủ đắc cư sở hay bán cư sở còn tùy thuộc vào “ý định” của tín hữu, miễn là họ chứng minh được ý định đó. Ví dụ họ đến giáo xứ và mua nhà để ở vĩnh viễn. Điều này chứng minh được ý định và vì vậy họ thủ đắc được cư sở.
Mất cư sở
Giáo Luật quy định, cư sở hay bán cư sở “bị mất do việc rời khỏi nơi ấy với ý định không trở về lại” (đ.106).
Ví dụ 1: Người di cư qua Mỹ, không có ý định trở về lại, bị mất cư sở ở Việt Nam.
Ví dụ 2: Người đi lên thành phố hay tỉnh khác để làm việc lâu dài nhưng vẫn có ý định trở về lại nơi cũ, không bị mất cư sở nơi cũ.
Hai cư sở
Một người có thể có hai cư sở một lúc: nơi đã cư ngụ được 5 năm và nơi mà mình còn muốn trở về lại.
Một người đã đi lâu năm, có một cư sở mới, nhưng nếu họ có “ý định” trở về lại,  cha sở vẫn phải coi họ vẫn thuộc về giáo xứ. Cha sở vẫn có trách nhiệm trên họ như người thuộc quyền mình. 

3.2. Cha sở nơi cử hành hôn phối thụ lý hồ sơ

 Vấn đề cũng thường hay đặt ra là cha sở nào có trách nhiệm thụ lý hồ sơ và rao báo: Cha sở bên nam hay bên nữ? 

a- Theo nguyên tắc pháp lý

 Giáo Luật không quy định rõ là cha sở bên nào sẽ thụ lý hồ sơ. Chủ trương bên nữ thụ lý hồ sơ là chiếu theo luật cũ, vì hôn nhân được cử hành bên nữ. Bộ luật 1983 không còn quy định như vậy nữa, nhưng cho phép tùy chọn giáo xứ kết hôn bên nam hay bên nữ.
Theo nguyên tắc của điều 19, trường hợp mà luật không quy định minh nhiên, cần phải theo những nguyên tắc của luật đã được áp dụng với sự hợp tình hợp lý. Vậy, để xác định ai là có trách nhiệm chu toàn hồ sơ hôn phối, ta cần dựa vào hai điều luật:
– Nếu cha sở ủy quyền cho cha khác cử hành hôn nhân thì: Trước khi ban ủy quyền riêng biệt, phải chu toàn tất cả những gì đã ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên (đ. 1113).
– Luật đòi cha chứng hôn: Trước khi cử hành hôn nhân phải biết chắc không có gì cản trở cử hành bí tích thành sự và hợp thức (đ. 1066).
Vị nào có năng quyền thì mới ủy được. Vị đó chính là Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc cha sở của nơi hay địa hạt cử hành hôn phối. Vì vậy, Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc cha sở của nơi cử hành có trách nhiệm phải “chu toàn tất cả những gì ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên (đ.1113).
Nhiệm vụ phải làm để chứng minh tình trạng thong dong này, tức là nhiệm vụ phải lập hồ sơ: đăng ký kết hôn, làm tờ rao, điều tra…
Vì vậy, trách nhiệm chính yếu để lập hồ sơ thuộc về chính cha sở nơi cử hành, để cha có thể chứng minh được sự thong dong kết hôn của đôi bạn và để cha xác tín không có gì ngăn trở cho việc chứng hôn thành sự và hợp pháp (đ. 1066).
Nếu một cha khác được ủy nhiệm chứng hôn thì cũng nhờ việc chu toàn hồ sơ của cha sở nơi cử hành, thì cha khác đó mới có thể có xác tín rằng không có gì cản trở cử hành kết hôn hữu hiệu và hợp luật (đ. 1066, 1114). 

b- Có thể được giúp lập hồ sơ bởi một cha sở khác

 Từ những nguyên tắc luật đã nêu (đ. 1113, 1066), phải xác định rằng: nhiệm vụ lập hồ sơ hôn phối thuộc về cha sở nơi cử hành hôn phối. Tuy nhiên, trách nhiệm này cũng có thể được thực hiện bởi một cha sở khác nhưng với tư cách phụ giúp.
Thông thường, cha sở của đôi bạn có nhiệm vụ phụ giúp cho cha sở nơi cử hành hôn phối lập hồ sơ như cấp giấy giới thiệu, cấp các chứng nhận, rao báo…chuẩn bị giáo lý hôn nhân…. 
Cha sở của đôi bạn có thể thực hiện việc giúp này ở mức độ cao hơn, nếu tình nguyện chu toàn tất cả việc thiết lập hồ sơ. Tuy nhiên cha giúp việc này cũng chỉ với tư cách phụ giúp cho cha sở nơi cử hành.
Việc giúp chu toàn hồ sơ bởi cha sở để cho tín hữu thuộc quyền mình có thể được cha sở nơi cử hành chấp nhận chứng hôn là một việc mục vụ hữu ích và thiết thực đối với những đôi hôn nhân muốn cử hành kết hôn tại một nhà thờ ở một giáo xứ thứ ba, nơi họ chỉ tạm trú hay ở trong thời gian ngắn.
Khi một cha sở, với tư cách phụ giúp đảm nhận thiết lập hồ sơ, ngài cần phải gởi hồ sơ cho cha sở nơi chứng hôn, và trong đó có đính kèm văn thư bảo đảm “không có cản trở” (nihil obstat), chiếu theo điều 1070:
Nếu người thực hiện việc điều tra không phải là cha sở có thẩm quyền chứng hôn, thì người này phải thông báo sớm hết sức cho cha sở biết kết quả việc điều tra ấy bằng một văn thư chính thức.
Hiện nay, có những đôi hôn phối muốn kết hôn ở thành phố nơi họ đang làm việc hay tạm trú; hoặc cả hai đôi bạn đều cư ngụ ở ngoại quốc, như bên Hoa Kỳ, họ lại muốn kết hôn tại quê nhà Việt Nam. Cha sở ở thành phố hay ở Việt Nam, nơi mà đôi bạn được chứng hôn có nhiệm vụ thụ lý hồ sơ hôn phối.
Tuy nhiên, việc này cũng có thể được cha sở riêng của một trong đôi bạn đảm nhận thay. Sau khi đã chu toàn, cha gởi hồ sơ đến cho cha sở nơi cử hành hôn phối. Trong hồ sơ thường có văn thư nihil obstat (do cha sở hoặc Bản Quyền địa phương xác nhận). Khi nhận được hồ sơ như vậy, dù không ai trong các bên cư ngụ tại giáo xứ đủ một tháng, cha sở Việt Nam nhận chứng hôn hữu hiệu và hợp pháp (sự “xin phép” cha sở hay Bản Quyền riêng coi như đã được thực hiện qua hồ sơ gởi đến).
Ví dụ 1:
Bên nam thường trú tại Nha Trang và bên nữ tại Mỹ Tho đến Tp HCM tạm trú để làm việc. Họ muốn kết hôn tại giáo xứ Vườn Xoài ở Tp HCM. Nếu cha sở Vườn Xoài chấp thuận chứng hôn cho họ, thì:
– Cha sở Vườn Xoài phải chịu trách nhiệm lập hồ sơ, rao báo để chứng minh tình trạng thong dong cũng như về tình trạng được chuẩn bị sẵn sàng cho việc kết hôn của mỗi bên. Cha sở ở Gp Nha Trang hay Gp Mỹ Tho đều có bổn phận phụ giúp như cấp giấy giới thiệu, các chứng nhận…
– Cha sở ở Gp Nha Trang hay Mỹ Tho, với tư cách phụ giúp đều có thể tự nguyện chu toàn hồ sơ để gởi đến cha sở Vườn Xoài nếu cha sở Vườn Xoài chấp nhận chứng hôn mà không muốn thụ lý hồ sơ.
Ví dụ 2:
Một đôi ngoại kiều ở Pháp gốc Việt muốn xin cử hành hôn phối tại giáo xứ Chính Tòa của một giáo phận nào đó tại Việt Nam mà họ chỉ có tạm trú trong giáo xứ chỉ một thời gian rất ngắn, với lý do muốn cử hành tại quê cha mẹ là giáo xứ Chính Tòa. 
Cha sở Chính Tòa có quyền chấp thuận để cử hành hữu hiệu và hợp pháp. Nếu họ chưa cư ngụ trong giáo xứ chưa được một tháng thì ngài cần có giấy phép của cha sở hay Đấng Bản Quyền riêng của một bên nào đó.
Theo nguyên tắc, khi chấp nhận chứng hôn, cha sở Chính Tòa phải thụ lý hồ sơ: đăng ký, điều tra, rao báo…, trong đó có việc yêu cầu họ xin các chứng nhận các Bí tích, xin chuẩn ngăn trở tiêu hôn nếu có, và các giấy tờ dân sự cần thiết khác. Trong trường hợp này, đôi bạn đăng ký kết hôn tại cha sở Chính Tòa.
Tuy nhiên, cha sở Chính Tòa có quyền từ chối chứng hôn cho họ khi thấy việc thụ lý hồ sơ quá khó khăn, do khó có thể có đủ cơ sở để chứng minh tình trạng thong dong đối với người ở ngoài giáo xứ hay ở ngoại quốc.
Cha sở Chính Tòa, nếu muốn giúp đôi bạn, có thể nhận chứng hôn và đòi hỏi điều kiện: Nếu có một cha bên Pháp, là cha sở riêng hay cha quản nhiệm đối với một bên nam hay nữ, sẵn lòng làm thay cha chu toàn các hồ sơ, chứng minh được tình trạng thong dong để kết hôn. Trong trường hợp này, đôi bạn đăng ký kết hôn và làm thủ tục tại cha bên Pháp đó. Cha bên Pháp sẽ gởi hồ sơ với xác nhận Nihil obstat cho cha sở Chính Tòa.
Sau khi đã chứng hôn, cha sở Chính Tòa sẽ gởi giấy chứng nhận kết hôn của họ cho cha sở riêng của họ bên Pháp và cha sở nơi rửa tội để ghi chú vào sổ rửa tội. 

c- Bổn phận chứng hôn của cha sở

 Chứng hôn và chúc hôn là một nhiệm vụ được Giáo Hội ủy thác đặc biệt cho cha sở, theo quy định của điều 530 như sau:
Những nhiệm vụ đã được uỷ thác đặc biệt cho cha sở là: 
10 Ban bí tích Rửa Tội;
20 Ban bí tích thêm sức cho những người nguy tử, chiếu theo quy tắc của điều 883, 3o; 
30 Ban của ăn đàng và bí tích xức dầu bệnh nhân, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của điều 1003 §2. và 3; cũng như ban phép lành Tông Toà; 
40 Chứng hôn và chúc hôn; 
50 Cử hành lễ nghi an táng; 
60 Làm phép giếng Rửa Tội trong mùa Phục Sinh, chủ sự các cuộc rước kiệu ngoài nhà thờ, cũng như ban phép lành trọng thể ngoài nhà thờ; 
70 Cử hành Thánh Lễ cách trọng thể hơn trong các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.
Trong địa hạt của mình, vì vậy, cha sở phải có bổn phận chứng hôn, cho giáo dân thuộc quyền mình. Sẽ là lỗi bổn phận chăm sóc và phục vụ cho con chiên nếu mục tử từ chối khi giáo dân trong xứ xin được cử hành hôn phối hoặc xin giúp đở được cử hành hôn phối ở giáo xứ khác.
Cha sở có năng quyền chứng hôn nhưng không bị đòi buộc mạnh mẽ bởi bổn phận, có thể từ chối chứng hôn đối với tín hữu chỉ có bán cư sở hay tạm trú thời gian ngắn. 

d- Khi đôi bạn muốn cử hành tại một giáo xứ khác

 Khi cử hành ở một giáo xứ khác, tức là nơi mà một bên:
–  Tạm trú (bán cư sở), hay đã cư ngụ ở đó đủ một tháng.
– Cư ngụ chưa đủ một tháng và có phép của Đấng Bản quyền riêng hay của cha xứ riêng của một bên trong đôi hôn phối (đ.1115).[7]
Đôi bạn phải xin và được sự chấp nhận chứng hôn của cha sở ở đó. Ngài có quyền nhận hay từ chối chứng hôn trong giáo xứ ngài.
Đôi bạn sẽ đăng ký kết hôn tại giáo xứ nào?
Việc này tùy theo sự thỏa thuận và sắp xếp của các cha sở, nhưng theo nguyên tắc sau: đôi bạn sẽ đăng  ký tại nơi cha sở chấp nhận chu toàn hồ sơ hôn phối. Nếu cha sở nơi tạm trú chấp nhận thực hiện hồ sơ và chứng hôn, đôi bạn sẽ đăng ký kết hôn tại giáo xứ tạm trú đó. Nếu một cha sở riêng nào của một trong đôi bạn chấp nhận chu toàn hồ sơ giúp thì đôi bạn đăng ký kết hôn tại giáo xứ riêng này. Sau khi chu toàn hồ sơ, cha sở riêng sẽ gởi hồ sơ đến cha sở nơi tạm trú để ngài chứng hôn. 

3.3. Hồ sơ hôn phối

 

3.3.1. Kết hôn thông thường

 Việc thiết lập hồ sơ nhằm có mục đích chứng minh tình trạng thong dong không có ngăn cản nào (nihil obstat) cho việc kết hôn, nghĩa là, các bên kết hôn không ai bị ngăn trở cho việc kết hôn hữu hiệu và hợp pháp.
Ngoài ra, việc thiết lập và lưu giữ những hồ sơ cũng cần thiết cho việc mục vụ quản trị điều hành, cung cấp những thông tin hay chứng nhận khi cần thiết.
Những giấy tờ cần có thông thường là:
1) Giấy giới thiệu kết hôn;
2) Giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức;
3) Bản khai trước kết hôn;
4) Giấy rao hôn phối;
5) Chứng chỉ giáo lý hôn nhân;
6) Giấy chứng nhận kết hôn dân sự;
7) Giấy miễn chuẩn ngăn trở hay giấy phép kết hôn, nếu cần thiết. 

a- Giấy giới thiệu kết hôn

 Giấy giới thiệu kết hôn được làm bởi cha sở của phía một bên Công Giáo cấp cho cha chứng hôn. Giấy này cần có những điểm:
– Xác nhận về cư sở, nghĩa là xác nhận giáo dân thuộc giáo xứ hoặc đã cư ngụ trong thời gian nào đó.
– Cho biết là sơ khởi không thấy ngăn trở tiêu hôn hay cấm hôn nào, ít ra trong thời gian người kết hôn cư ngụ ở giáo xứ.
Khi gởi giấy giới thiệu, cha sở nên gởi kèm chứng thư Bí Tích Rửa Tội có giá trị 6 tháng trước ngày cưới và chứng thư Bí Tích Thêm Sức nếu đương sự đã nhận các bí tích ấy trong giáo xứ.
Cha sở có bổn phận cấp giấy giới thiệu, không được từ chối vì lý do đương sự chưa học giáo lý hôn nhân, không đi lễ… Nếu thấy cần thiết, cha sở có thể thông báo riêng cho cha chứng hôn biết về tình trạng thiếu chuẩn bị này để cha sở nơi chứng hôn lo liệu.
Theo nguyên tắc của điều 1113, cha sở có năng quyền, tức là cha sở nơi cử hành hôn nhân có trách nhiệm phải chứng minh và xem xét có gì ngăn cản cho việc chứng hôn thành sự và hợp luật hay không (đ.1066). Trách nhiệm này không thuộc về cha sở cấp giấy giới thiệu. Vì vậy, cha sở có bổn phận giới thiệu không được vì lý do có quyền trên tín hữu thuộc giáo xứ mình hay vì lý do mục vụ riêng mà ngăn cản việc kết hôn của tín hữu này ở một giáo xứ khác.
Lưu ý, khi một bên là người lương hay Tin Lành…ở trong một địa hạt của giáo xứ khác, cha chứng hôn không xin cấp “giấy giới thiệu” của cha sở nơi đó. Cha sở sẽ không cấp giấy giới thiệu vì lý do không biết đến người lương hay Tin Lành trong địa hạt của mình.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, cha chứng hôn nên xin cha sở bên người lương “giúp điều tra”, hoặc trước hay sau khi nhận đăng ký kết hôn, và xin rao như quy định thông thường về rao hôn phối. Cha sở của giáo xứ có người lương hay Tin Lành sẽ sẵn lòng giúp điều tra. Ngài sẽ thực hiện điều tra do chính ngài, hoặc nhờ sự giúp đở của qua ban chức việc, hay ông biện khu vực. 

b- Giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức

 Giấy chứng nhận Rửa tội phải ghi đầy đủ các chi tiết tên tuổi, thời gian (ngày, tháng, năm), giáo xứ, của nơi Rửa tội và Thêm Sức.
Chứng thư Rửa tội phải không nên quá sáu tháng, để tránh sự thiếu cập nhật những tình trạng nhân thân, vì một số tình trạng nhân thân thay đổi như kết hôn, được giải gỡ hôn phối, chịu chức thánh, khấn dòng… được ghi chú vào sổ Rửa tội.
Không chấp nhận bản sao sổ gia đình Công Giáo thay cho chứng thư Rửa Tội, trừ khi biết chắc chắn là không có giả mạo và không có thay đổi về tình trạng nhân thân.
Khi không thể chứng minh được sự lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng giấy chứng nhận, thì cha sở cũng có thể chấp nhận là đã lãnh nhận, chiếu theo Giáo Luật quy định:
Lời tuyên bố của một nhân chứng đáng tin cậy hay lời thề của chính người đã được Rửa Tội, nếu họ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ở tuổi thành niên, đủ để làm bằng chứng cho việc ban bí tích Rửa Tội, nếu điều đó không gây thiệt hại cho ai (đ. 876).
Điều 876 nói trên cũng áp dụng cho việc chứng tỏ là đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức (đ. 894).
Khi có hồ nghi một người đã được Rửa Tội hay chưa thì áp dụng điều 869:
§1. Nếu hồ nghi một người đã được Rửa Tội hay chưa, hoặc bí tích Rửa Tội được ban cho người đó có thành sự hay không, và nếu vẫn còn hồ nghi sau khi đã điều tra cặn kẽ, thì phải ban bí tích Rửa Tội cho họ với điều kiện.
§2. Những người đã được Rửa Tội trong một cộng đoàn Giáo Hội không Công Giáo, thì không được Rửa Tội với điều kiện, trừ khi có một lý do nghiêm chỉnh để hồ nghi về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, sau khi đã điều tra về chất thể và mô thể đã được dùng khi ban bí tích, cũng như về ý muốn của người thành niên được Rửa Tội và của thừa tác viên ban bí tích Rửa Tội. 

c- Bản khai trước khi kết hôn

 Bản khai hay còn gọi là bản tra vấn kết hôn mà hiện nay vẫn thường làm.
Cần lưu ý: Không được làm bản tra vấn kết hôn quá ngắn gọn hoặc thực hiện vào ngày cận kề kết hôn.
 Bản khai được làm riêng biệt từng người, không để đôi bạn giúp lẫn nhau khi viết bản khai. Một linh mục có trách nhiệm chứng giám và giúp thực hiện bản khai. Tránh hết sức có thể, trao việc này cho chức việc, hoặc các sơ các thầy, vì chính vị linh mục có trách nhiệm mới đủ sự hiểu biết để xử lý những hoàn cảnh bất thường.
Bản khai cần có nội dung:
– Lý lịch ngắn gọn, nhưng cần có số điện thoại của người khai và thân nhân để có thể liên lạc, điều tra.
– Sự ý thức và chấp nhận tự do của đôi bạn về hôn nhân: bất khả phân ly, đơn nhất, sinh sản và giáo dục con cái.
– Liệt kê những ngăn trở tiêu hôn và ngăn trở bất hợp luật để đôi bạn xem xét và khai báo.
– Những hoàn cảnh có thể xảy ra khiến sự ưng thuận bị hà tỳ như: thiếu khả năng phán đoán hay tâm lý, bệnh tật, khả năng sinh sản, lầm lẫn, đặt điều kiện kết hôn…
Người khai, vì vậy, không được giấu giếm những điều mà có thể gây lầm lẫn làm nhiễu loạn đời sống hôn nhân do: bệnh đồng tính, bệnh nan y, nghiện, vô sinh, có con riêng, nợ nần lớn, đang có quan hệ nam nữ với người khác. ..
(Có mẫu tờ khai, được đề nghị ở phần phụ lục) 

d- Rao hôn phối

 Nguyên tắc rao ba lần       
Rao hôn phối là một phương thức được nói đến bởi Giáo Luật nhằm khám phá ra các ngăn trở tiêu hôn và cấm kết hôn (đ.1067), được HĐGMVN ấn định những quy tắc cụ thể. Ở các quốc gia khác, như ở Mỹ, có thể có những phương thức điều tra khác được sử dụng, không dùng phương thức rao.
HĐGMVN ấn định: Hôn phối được rao ba lần, thường được rao vào ba Chúa Nhật liên tiếp. Cha sở có quyền tha rao một lần, cha Quản hạt tha rao hai lần, và Bản quyền địa phương tha rao ba lần.[8]
Cha sở nào lập tờ rao?
Theo nguyên tắc chung: cha sở phụ trách chứng hôn tại giáo xứ mình, có bổn phận lập hồ sơ để chứng minh tình trạng thong dong của đôi bạn, lập tờ rao và phải gởi đi để nhờ rao.
Tờ rao gởi đến đâu?
Tờ rao được đến các cha sở, nơi mà người kết hôn đang thường trú hay có cư sở.
Còn phải gởi tờ rao đến cha sở nơi mà họ đã cư ngụ trong một thời gian khá lâu, nếu có hồ nghi là họ có những cản trở cho kết hôn vô hiệu hay bất hợp luật. 
Cũng phải gởi đến bên giáo xứ người lương cư ngụ 
Trong trường hợp kết hôn hỗn hợp, khác đạo, hay hôn nhân có người tân tòng thì cũng phải gởi giấy rao cho bên lương hay tân tòng đó đã cư ngụ, để khám phá ra những ngăn trở hay bất hợp luật cản trở việc kết hôn. Cha sở bên người lương… đó cũng phải có bổn phận rao và báo kết quả rao.
Gởi kết quả rao
Các cha đã nhận tờ rao phải gởi lại kết quả tờ rao hôn phối cho cha xứ nơi cử hành hôn phối sau khi hoàn thành việc rao, cùng với lời ghi chú, nếu có, về vấn đề nghiêm trọng hay hoài nghi (đ. 1070).
Rao không đơn thuần là thủ tục nhưng là một phương cách điều tra. Vì vậy, cha sở nhận giấy rao cần tích cực rao để giúp đở cha chứng hôn, không nên lấy lý do giáo dân không thuộc quyền mình (người lương, đã xuất khỏi giáo xứ…) để từ chối rao.
Cha xin rao nếu không nhận được kết quả do bị từ chối rao hoặc do quên sót của cha sở bên kia, thì vẫn có thể cứ tiến hành chứng hôn, miễn là cha đã chu toàn nhiệm vụ và biết chắc không có gì cản trở cử hành bí tích thành sự và hợp pháp (đ. 1066). 

e- Chứng chỉ giáo lý hôn nhân

 Chứng chỉ giáo lý hôn nhân là bằng chứng giúp xác nhận tình trạng được chuẩn bị kiến thức của đôi bạn về hôn phối công giáo. Các đôi bạn có thể được cấp chứng chỉ này tại giáo xứ riêng của mình hay tại một giáo xứ khác thuận tiện cho mình.
Các cha sở nơi cử hành hôn phối, tức là cha sở có năng quyền chứng hôn, có trách nhiệm xem xét tình trạng đôi bạn có được chuẩn bị đầy đủ và có ngăn trở nào không (đ.1066). Khi hồ nghi về sự chuẩn bị này, ngài có thể khảo hạch lại và bổ túc kiến thức về hôn nhân cho đôi bạn, cho dù họ đã có chứng chỉ cấp từ nơi khác. Tuy nhiên, để việc mục vụ được tốt đẹp giữa các mục tử, các cha sở nên chấp nhận giá trị của các chứng chỉ.
Trong trường hợp cần thiết, nếu không thể có được chứng chỉ giáo lý, cha sở có thể linh động liệu cách giúp họ học hỏi những nét chính yếu của ý nghĩa hôn nhân và về quyền lợi và nghĩa vụ vợ chồng cũng như bậc cha mẹ (đ. 1063) trong một thời gian vài giờ hay vài buổi học. 

g- Giấy chứng nhận kết hôn dân sự

 Giáo luật đòi phải xin phép Bản Quyền địa phương khi chứng hôn cho những người không thể được công nhận hay không thể kết hôn theo luật dân sự (đ. 1071§1n.2). Vì vậy, cần thiết phải có giấy chứng nhận kết hôn dân sự trước khi cử hành hôn phối.[9]
Nếu có hồ nghi có sự bất hợp pháp theo dân luật khiến đương sự không thể kết hôn thì cần cẩn thận xem xét để có thể tiến hành xin phép hay không, tùy theo sự thẩm định mục vụ của Đấng Bản quyền.
Tuy nhiên, đối với diện kết hôn với người ngoại quốc, trong sự tôn trọng luật pháp của các quốc gia, Đấng Bản Quyền phải đòi buộc có giấy chấp nhận cho kết hôn của chính quyền một cách nghiêm ngặt hơn. 

h- Giấy miễn chuẩn ngăn trở hay giấy phép kết hôn.

 Trong trường hợp có ngăn trở tiêu hôn như kết hôn dị giáo, có họ máu, có họ kết bạn… thì cần phải xin miễn chuẩn ngăn trở nơi Đấng Bản Quyền địa phương. Nếu không có miễn chuẩn ngăn trở tiêu hôn, kết hôn vô hiệu.
Đối với những trường hợp Giáo luật đòi xin phép, như thiếu giấy đăng ký kết hôn dân sự, kết hôn hỗn hợp… thì cần xin phép Đấng Bản Quyền địa phương để được hợp luật.
Các đơn xin được miễn chuẩn ngăn trở tiêu hôn hay đơn xin phép kết hôn, không nhất thiết là phải gởi đến Đức Giám Mục giáo phận. Có thể gởi đơn đến một trong các cha khác cũng có địa vị là Đấng Bản Quyền địa phương, như cha Tổng Đại Diện, cha Đại Diện Giám Mục, hay linh mục nào khác được Đức Giám Mục ban quyền miễn chuẩn.
Đơn xin ít nhất phải làm thành hai bản, để lưu Tòa Giám Mục một bản. 

3.3.2. Kết hôn với người ngoại quốc

Thủ tục kết hôn với người ngoại quốc cần chú ý đến việc đăng ký kết hôn dân sự và sự khác biệt của thủ tục hôn phối Công Giáo của nước ngoài. 

a) Giấy giới thiệu hay giấy chứng nhận pháp lý

 Tương tự như ở Việt Nam, giấy giới thiệu của cha sở hay cha quản nhiệm cũng cần thiết.
Trong một số trường hợp, giáo dân di chuyển nhiều chỗ ở, họ được kể là người không có cư sở, không có được giấy giới thiệu, thì phải cần có phép của Đấng Bản Quyền địa phương để kết hôn (đ.1071§1n.1).
Trong một số trường hợp khác, giáo dân có thể tưởng mình không có cư sở vì họ đã không đăng ký nhập giáo xứ, nhưng họ đã thực sự cư ngụ một nơi trên 5 năm. Nên hướng dẫn họ đến gặp cha sở nơi đó để xin giấy giới thiệu.
Đối với người ngoài Công Giáo hay người Công Giáo mà không có giấy giới thiệu hay chứng nhận tình trạng thong dong, buộc phải có một giấy chứng minh pháp lý dân sự nào đó để chứng tỏ tình trạng thong dong:
– Giấy chứng minh tình trạng chưa có kết hôn, hoặc đã kết hôn nhưng người phối ngẫu đã qua đời, do cơ quan chính quyền cấp chưa quá 06 tháng.
Có những hình thức giấy khác nhau, tùy theo quốc gia hay tiểu bang, như giấy xác nhận chưa từng kết hôn, giấy đăng ký kết hôn mà trong đó có xác nhận chưa có kết hôn lần nào trước đó… Tuy nhiên, điểm mấu chốt cần có trong các giấy đó là chứng minh được đương sự phải chưa có kết hôn lần nào hoặc đã có kết hôn nhưng người phối ngẫu đã qua đời.
Bản khai với “lời thề” chưa kết hôn của đương sự trong hồ sơ thì không đủ để chứng minh.
– Nếu là người Việt Nam đang ở nước ngoài, do tạm trú, mới nhập cư v.v. mà không thể có giấy chứng nhận của chính quyền nước đó thì buộc phải có giấy chứng nhận tình trạng chưa kết hôn hoặc tương tự của chính quyền VN hay Đại Sứ Quán VN tại nước đó.
Trong trường hợp đặc biệt, không thể có giấy tờ chứng minh tình trạng thong dong bằng giấy tờ chính thức của chính quyền, và ngay cả khi đã có được những chứng minh pháp lý này mà có hồ nghi, tùy theo sự khôn ngoan, cha sở có thể có những cách điều tra riêng, miễn là đủ để bảo đảm không có gì cản trở cho việc cử hành hôn phối hữu hiệu và hợp pháp. 

b) Giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức

 Theo như yêu cầu thông thường ở VN. 

c) Bản khai trước kết hôn

 Cha sở cần có sẵn bản khai bằng tiếng Anh để người ngoại quốc có thể khai báo cho cẩn thận, rõ ràng. Chú ý về những tình trạng đã kết hôn ngoài luật đạo hay sống chung mà đã có con cái, hoặc có bệnh tật, bất lực… có thể đã xảy ra, nhất là đối với người ngoại quốc cao tuổi.
Người Công Giáo ở Việt Nam có thể bị lầm lẫn về tình trạng nhân thân của ngoại kiều. Vì vậy, nếu chỉ điều tra về sự có ngăn trở dây hôn phối thì cũng chưa đủ mà còn điều tra đến những tình trạng bất hợp khác, gây cản trở cho kết hôn và đời sống chung. Đó là những trường hợp mà Giáo Luật đòi có sự xin phép của Đấng Bản quyền địa phương mới được kết hôn, được nói đến ở điều 1071§1. 

d) Giấy rao hôn phối

 Sẽ không gởi giấy rao ra nước ngoài, nếu nước đó không có áp dụng phương thức rao báo. 

e) Chứng chỉ giáo lý hôn nhân

 Nếu họ không có chứng chỉ giáo lý hôn nhân, hoặc có khó khăn trong việc học giáo lý lâu dài, cha sở nếu thấy cần thiết, có thể gặp gỡ và dạy về những điều chính yếu về sự đơn nhất và bất khả phân ly hôn nhân cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ hôn nhân, trong thời gian một vài buổi. Nếu có khó khăn ngôn ngữ đối với người ngoại quốc, cha nhờ một linh mục khác giúp. 

g) Giấy chứng nhận kết hôn dân sự

 Trước khi cử hành hôn phối nhất thiết đôi bạn phải có giấy chứng nhận kết hôn của quốc gia họ đăng ký, hoặc giấy chứng nhận kết hôn do chính quyền Việt Nam cấp.
Nếu đăng ký ở Việt Nam mà chưa có được giấy chứng nhận kết hôn, ít nhất phải có giấy hẹn của bên chính quyền và thấy có lý do chính đáng. Trong trường hợp có nghi ngờ sự cho phép nhập cư để họ có thể chung sống vợ chồng hợp pháp, thì phải hoãn lại việc kết hôn. 

h) Hồ sơ theo luật dân sự

 Về kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo luật quốc gia Việt Nam, đôi bạn cần có hồ sơ như sau:
– Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu;
– Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam, và giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng;
– Giấy khám sức khỏe;
– Bản sao Hộ chiếu và các giấy tờ có giá trị như Giấy thông hành hoặc Thẻ cư trú đối với công dân nước ngoài;
– Bản sao Sổ Hộ khẩu đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước.
(x. Nghị định 24/2013/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài). 

3.3.3. Hôn nhân với ngoại kiều không Công Giáo

 Ngoài những giấy tờ cần thiết như trường hợp ngoại kiều Công Giáo, cha sở nơi cử hành hôn phối giúp làm giấy xin miễn chuẩn hôn phối khác đạo (với người lương) hay xin phép cử hành hôn nhân hỗn hợp (với người Tin Lành, Anh giáo…).
Cha sở chỉ đề nghị lên Đấng Bản Quyền để cho phép kết hôn hay miễn chuẩn ngăn trở sau khi đã điều tra cẩn thận và không có nghi ngờ gì về việc cử hành hôn phối thành sự và hợp pháp.
Người lương đã ly dị và theo đạo để hưởng đặc ân thánh Phaolô cần được đào tạo và có đức tin. Không nên chấp thuận cho kết hôn nếu đương sự đã không trải qua thời gian dự tòng là 6 tháng và cha nhận thấy họ có đức tin.
Một số giáo phận có quy định không chấp nhận cho hưởng đặc ân Thánh Phaolô đối với ngoại kiều.
Cần lưu ý, ở Tây phương hay Mỹ đa số người dân đều đã được rửa tội trong Công Giáo hay Tin Lành, khó có thể là người chưa được Rửa Tội. 

3.4. Mục vụ điều tra, chuẩn bị

 

a- Những hình thức điều tra khác

 Cha sở chứng hôn, trong trách nhiệm chứng minh tình trạng và chắc chắn về thong dong của các bên (đ. 1113, 1066), tùy theo sự khôn ngoan, có thể bổ túc thêm những cách điều tra khác, cho những trường hợp cụ thể có khó khăn hay có sự hồ nghi. Những phương thức sau đây, cha sở nên tùy nghi áp dụng:
– Gọi điện thoại hỏi thăm: Cha sở gọi điện thoại cho cha mẹ, anh chị em hoặc họ hàng, nhất là đối với bên người lương hay tân tòng để hỏi thăm một cách khôn ngoan kín đáo, để xem người này đã có kết hôn hay có gì trở ngại cho việc kết hôn không.
– Giấy làm chứng tình trạng hôn nhân: Cha sở có thể yêu cầu cha mẹ hay anh chị em làm một giấy xác nhận tình trạng thong dong của người của bên người lương hay tân tòng. Trong giấy làm chứng này, có thể có phần ghi ý kiến của cha mẹ hay người bảo hộ của người tân tòng về việc người này theo đạo và kết hôn.
(Xin xem bản mẫu ở phần phụ lục). 

b- Niêm yết thông báo thủ tục kết hôn

 Những quy định về tiến trình thủ tục và những điều kiện kết hôn nên được niêm yết rõ ràng tại nhà thờ hoặc nhà xứ cho giáo dân được biết rộng rãi. Từ đó, giáo dân có thể dự liệu chương trình kết hôn và thực hiện đúng đắn quy định kết hôn. Ngược lại, đôi khi, vì không biết rõ, có những bất trắc xảy ra, hoặc có sự đối chọi giữa những dự liệu của giáo dân và chương trình của cha sở, dễ phát sinh mâu thuẫn hoặc gây khó xử cho cha sở.
Khi có những quy định được niêm yết, cha sở có thể dựa vào đó như những nguyên tắc chung để thi hành, và hơn nữa, cha có thể có điểm tựa để xử lý những trường hợp khó khăn.
Tuy nhiên, dù có những nguyên tắc hay những quy định chung được đặt ra, cha sở vẫn có thể uyển chuyển để thực hiện việc mục vụ cách thích đáng và hợp lý trong những trường hợp riêng biệt.
Ví dụ, đối với một đôi bạn cần kết hôn gấp vì lỡ có thai, chưa được chuẩn bị về hôn nhân, cha sở có thể có thể từ chối, không cho họ kết hôn dựa trên cơ sở đã quy định về thời gian chuẩn bị, đăng ký, học giáo lý…Tuy nhiên, nếu thấy họ thật lòng yêu thương nhau và có đủ trưởng thành đức tin cũng như sự hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ hôn nhân thì cha có thể chấp nhận cho họ kết hôn. 

3.5. Gởi chứng nhận kết hôn và ghi chú sổ Rửa Tội

 Điều 1123 quy định về ghi chú vào sổ Rửa Tội như sau:
§1. Việc kết ước hôn nhân cũng phải được ghi chú vào sổ Rửa Tội, trong đó đã ghi việc lãnh nhận bí tích Rửa Tội của hai vợ chồng. 
§2. Nếu một người phối ngẫu không kết ước hôn nhân trong giáo xứ mình đã được Rửa Tội, thì cha sở nơi cử hành hôn lễ phải thông báo sớm hết sức cho cha sở nơi đương sự đã được Rửa Tội biết là hôn nhân đã được kết ước.
 Sau khi hoàn thành việc cử hành hôn phối, cha chứng hôn có bổn phận cấp giấy chứng nhận kết hôn cho đôi bạn và gởi giấy thông báo hôn phối đến cho cha sở riêng của đôi bạn.
Cũng phải gởi giấy thông báo hôn phối cho cha sở nơi Rửa Tội của mỗi bên, khi nơi Rửa Tội là một nơi khác, để cha ấy ghi chú vào sổ Rửa Tội.[10]
Cha sở nơi Rửa Tội khi nhận được giấy báo, phải ghi chú vào sổ Rưat Tội cẩn thận.
Tất cả những thay đổi nhân thân quan trọng thường được ghi chú vào sổ Rửa Tội: Khấn dòng, chịu chức, hôn phối, được tiêu hôn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
RADIO CÔNG GIÁO
LIÊN KẾT WEB SITE

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc

Các Giáo Phận

Giáo phận Bà Rịa
Giáo phận Ban Mê Thuột
Giáo phận Bắc Ninh
Giáo phận Bùi Chu
Giáo phận Cần Thơ
Giáo phận Đà Lạt
Giáo phận Đà Nẵng
Giáo phận Hải Phòng
Tổng Giáo phận Huế
Giáo phận Hưng Hóa
Giáo phận Kon Tum
Giáo phận Lạng Sơn
Giáo phận Long Xuyên
Giáo phận Mỹ Tho
Giáo phận Nha Trang
Giáo phận Phan Thiết
Giáo phận Phát Diệm
Giáo phận Phú Cường
Giáo phận Qui Nhơn
Giáo phận Thái Bình
Giáo phận Thanh Hóa
Tổng Giáo phận TP HCM
Giáo phận Vinh
Giáo phận Vĩnh Long
Giáo phận Xuân Lộc
CÁC DÒNG TU 
Dòng Chúa Cứu Thế VN 
Dòng Đồng Công (Hoa Kỳ) 
Dòng Ngôi Lời 
Dòng Chúa Cứu Thế (Hoa Kỳ) 
Dòng Thánh Tâm Huế 
Dòng Lasan 
Tỉnh Dòng Đa Minh VN 
Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ 
Dòng Tên Việt Nam 
Dòng Phanxicô VN 
Giáo Hoàng Học Viện Piô X ( Đà Lạt ) 
Đại Chủng Viện Huế 
Đại Chủng Viện Vinh Thanh - GP Vinh 
Đại Chủng Viện Xuân Lộc 
Dòng Thánh Thể 
Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ 
Đan Viện Biển Đức Thiên Tâm (Hoa Kỳ)
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế 
Dòng Mến Thánh Giá LA (gốc Phát Diệm) 
Dòng Đức Mẹ Trinh Vương 
Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời 
Dòng Đaminh Tam Hiệp 
Dòng Don Bosco 
Tu đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa 
Dòng Thừa Sai Đức Tin VN 
Liên hiệp bề trên thượng cấp VN 
Dòng Nữ Tử Thánh Phaolô 
Dòng Đồng Công (Việt Nam) 
Dòng Chúa Thánh Thần 
Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô 
Dòng Truyền Giáo Thánh Carôlô - Scalabrini 
Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế
LỜI HẰNG SỐNG
RADIO TỔNG HỢP

Suy Niệm Hằng Ngày


Phút cầu nguyện mỗi ngày

Bài Giảng Hằng Ngày

Bài Giảng Thánh lễ Chúa Nhật

HHTM TGP Sàigòn Tổ chức Hội Thi Thánh Ca Chủ đề “ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU NHỜ MẸ MARIA” tại thánh đường GX Sao Mai Hạt Chí Hòa Lúc 19g00 Ngày 28-05-2017. Mừng Kính 100 năm Đức Mẹ Hiện ra tại FATIMA.


Lễ Truyền Dầu Đức Thánh Cha cử hành tại Vatican 2017

Nhạc Thánh Ca

Đi Đàng Thánh Giá trọng thể cùng Đức Thánh Cha tại Hý trường Colosseo ở Roma
 

  BÀI GIẢNG LÒNG THƯƠNG XÓT

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây